Trong quan hệ thừa kế, quyền hưởng di sản là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân, được pháp luật bảo vệ và ghi nhận. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp người thuộc diện thừa kế đang chấp hành hình phạt tù, bị tạm giam hoặc đang thi hành án tại cơ sở giam giữ. Vậy: Người đang đi tù có được hưởng di sản thừa kế không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
- 1 1. Người đang đi tù có được hưởng di sản không?
- 2 2. Vấn đề pháp lý thường gặp khi người đang đi tù hưởng di sản thừa kế:
- 3 3. Giải pháp bảo đảm quyền hưởng thừa kế cho người đang đi tù:
- 3.1 3.1. Thực hiện ủy quyền hợp pháp để tham gia thủ tục thừa kế:
- 3.2 3.2. Đề nghị Công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền phối hợp thực hiện thủ tục:
- 3.3 3.3. Bảo đảm nghĩa vụ thi hành án và xử lý tài sản hợp pháp:
- 3.4 3.4. Thiết lập cơ chế quản lý tài sản hợp lý trong thời gian chấp hành án:
- 3.5 3.5. Chủ động tham vấn Luật sư để bảo vệ quyền lợi:
1. Người đang đi tù có được hưởng di sản không?
Pháp luật hiện nay chưa quy định rõ ràng liên quan đến việc người đang đi tù có được hưởng di sản hay không. Tuy nhiên, căn cứ vào những điều luật quy định về liên quan đến việc hưởng di sản thì cá nhân phải đảm bảo điều kiện như sau thì được hưởng di sản thừa kế:
a. Điều kiện thứ nhất:
Cá nhân được hưởng di sản phải là một trong những người thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Việc phân chia di sản theo pháp luật được thực hiện theo quy định tại Điều 660 Bộ Luật dân sự 2015. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự tại khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015:
- Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: giữa vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi vào người đã mất;
- Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Lưu ý: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết hoặc những người đó không có quyền hưởng di sản bị truất quyền hưởng di sản hoặc chủ động từ chối hưởng di sản được để lại.
b. Điều kiện thứ hai:
Người hưởng di sản thừa kế không nằm trong các đối tượng không được hưởng di sản. Pháp luật dân sự cũng đã quy định rõ ràng về những đối tượng sẽ không được hưởng quyền di sản tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể như sau:
- Đối với những người thuộc hàng thừa kế nhưng bị kết án vì hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe hoặc có những hành vi ngược đãi nghiêm trọng hành hạ người để lại di sản. Bất kỳ những hành vi nào xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm của người để lại di sản thì cũng sẽ không có quyền được di sản thừa kế;
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản là một trong những quy định có nhiều ý nghĩa và giá trị nhân văn trong mối quan hệ giữa người để lại di sản và người nhận di sản. Vì vậy, nếu có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng này cũng sẽ không được xem xét hưởng di sản;
- Đã bị kết án vì mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người này thực hiện những hành vi của ý gây xâm phạm tính mạng đến người thừa kế khác;
- Trong quá trình lập di chúc, những cá nhân có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản lập di chúc; bất kỳ hành vi làm giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí và nguyện vọng của người để lại di sản;
Lưu ý: Những trường hợp đã quy định ở trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ ở di sản theo di chúc.
Như vậy: Người đang đi tù hoàn toàn có quyền ĐƯỢC hưởng di sản thừa kế nếu không nằm trong những trường hợp quy định về những đối tượng không được hưởng quyền di sản tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, cùng với đó người này cũng phải nằm trong trường hợp những cá nhân thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
2. Vấn đề pháp lý thường gặp khi người đang đi tù hưởng di sản thừa kế:
Về nguyên tắc, người đang chấp hành án phạt tù không bị tước quyền hưởng di sản thừa kế nếu không thuộc trường hợp bị truất quyền theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, việc một phạm nhân tham gia quan hệ thừa kế thường phát sinh nhiều khó khăn và vướng mắc pháp lý. Những vấn đề này không xuất phát từ việc mất quyền thừa kế, mà chủ yếu do hạn chế về điều kiện thực hiện quyền và các yếu tố liên quan đến thi hành án. Dưới đây là những vấn đề thường gặp.
2.1. Khó khăn trong việc tham gia ký kết văn bản thừa kế:
Để hoàn tất thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản thừa kế, các đồng thừa kế phải trực tiếp ký kết văn bản tại Tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, đối với người đang chấp hành án phạt tù, việc di chuyển đến cơ quan công chứng là không thể thực hiện. Điều này đặt ra yêu cầu phải thực hiện theo các phương án đặc biệt như:
- Đề nghị công chứng viên đến trại giam để lập văn bản;
- Lập văn bản ủy quyền cho người đại diện thay mặt tham gia;
- Thực hiện thủ tục xác nhận chữ ký trong cơ sở giam giữ theo quy định.
Nếu không xử lý đúng quy trình, văn bản thừa kế có thể bị từ chối công chứng hoặc bị tranh chấp về sau.
2.2. Tranh chấp giữa các đồng thừa kế:
Trong thực tiễn, việc một người thừa kế đang đi tù thường tạo ra tâm lý nghi ngờ hoặc mâu thuẫn giữa các đồng thừa kế. Có trường hợp các thành viên khác trong gia đình cho rằng người đang chấp hành án không xứng đáng được hưởng di sản, từ đó phát sinh tranh chấp.
Tuy nhiên, pháp luật dân sự chỉ tước quyền hưởng di sản trong những trường hợp cụ thể được quy định rõ (ví dụ: cố ý xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người để lại di sản). Việc đang chấp hành án phạt tù không phải là căn cứ mặc nhiên để mất quyền thừa kế.
Nếu các bên không thống nhất được, vụ việc có thể phải giải quyết tại Tòa án và làm kéo dài thời gian phân chia di sản.
2.3. Nghĩa vụ tài chính và việc xử lý phần di sản để thi hành án:
Một vấn đề pháp lý quan trọng là phần di sản mà người đang chấp hành án được hưởng có thể bị sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài chính hay không. Trong trường hợp người thừa kế có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự hoặc nghĩa vụ thi hành án, phần tài sản được hưởng từ di sản thừa kế có thể bị kê biên, xử lý để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Điều này có nghĩa:
- Người đang đi tù vẫn được xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản;
- Tuy nhiên, tài sản đó có thể bị trừ vào nghĩa vụ phải thi hành.
Do đó, việc hưởng di sản không đồng nghĩa với việc được toàn quyền sử dụng nếu đang tồn tại nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện.
2.4. Vấn đề quản lý, sử dụng tài sản trong thời gian chấp hành án:
Đối với tài sản có giá trị lớn như bất động sản, cổ phần, tiền gửi ngân hàng…người đang chấp hành án phạt tù khó có điều kiện trực tiếp quản lý, khai thác hoặc định đoạt. Trong nhiều trường hợp, cá nhân cần:
- Lập văn bản ủy quyền quản lý tài sản;
- Thỏa thuận giao một đồng thừa kế khác quản lý tạm thời;
- Thực hiện các giao dịch thông qua người đại diện hợp pháp.
Nếu không có cơ chế quản lý rõ ràng, tài sản có thể bị tranh chấp, chiếm dụng hoặc sử dụng không đúng thỏa thuận.
3. Giải pháp bảo đảm quyền hưởng thừa kế cho người đang đi tù:
Mặc dù người đang chấp hành án phạt tù không bị pháp luật tước quyền hưởng di sản thừa kế (trừ các trường hợp đặc biệt theo luật định) nhưng do điều kiện bị hạn chế tự do thân thể, việc thực hiện quyền này trên thực tế có thể gặp nhiều khó khăn. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế trong hoàn cảnh đặc biệt này, cần áp dụng các giải pháp pháp lý phù hợp và chủ động phòng ngừa rủi ro.
3.1. Thực hiện ủy quyền hợp pháp để tham gia thủ tục thừa kế:
Giải pháp phổ biến và hiệu quả nhất là lập văn bản ủy quyền cho người đại diện thay mặt tham gia khai nhận hoặc phân chia di sản.
Theo quy định pháp luật dân sự, người đang chấp hành án phạt tù vẫn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nếu không bị Tòa án tuyên mất hoặc hạn chế năng lực. Do đó, họ có quyền:
- Lập văn bản ủy quyền cho người thân, luật sư hoặc cá nhân khác;
- Ủy quyền ký kết văn bản khai nhận di sản;
- Ủy quyền quản lý, sử dụng hoặc định đoạt phần tài sản được hưởng.
Văn bản ủy quyền có thể được lập tại cơ sở giam giữ và phải được xác nhận theo đúng thủ tục pháp luật. Trong trường hợp cần công chứng, công chứng viên có thể phối hợp với cơ quan quản lý trại giam để thực hiện thủ tục.
Việc ủy quyền rõ ràng, cụ thể về phạm vi và nội dung sẽ giúp tránh tranh chấp sau này.
3.2. Đề nghị Công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền phối hợp thực hiện thủ tục:
Trong những vụ việc phức tạp hoặc có giá trị tài sản lớn, thay vì chỉ ủy quyền thì cá nhân có thể đề nghị công chứng viên trực tiếp làm việc tại cơ sở giam giữ để:
- Lập văn bản khai nhận di sản;
- Lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản;
- Xác nhận chữ ký của người thừa kế đang chấp hành án.
Phương án này giúp tăng tính pháp lý của văn bản và hạn chế nguy cơ bị tranh chấp về sau, đặc biệt trong trường hợp giữa các đồng thừa kế có mâu thuẫn.
3.3. Bảo đảm nghĩa vụ thi hành án và xử lý tài sản hợp pháp:
Nếu người đang đi tù có nghĩa vụ thi hành án dân sự (ví dụ: bồi thường thiệt hại), phần di sản được hưởng có thể bị kê biên hoặc xử lý để bảo đảm thi hành án.
Do đó, để tránh phát sinh tranh chấp hoặc bị xử lý bất ngờ, cần:
- Xác định rõ tình trạng nghĩa vụ thi hành án trước khi phân chia;
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;
- Thỏa thuận rõ ràng với các đồng thừa kế về phần tài sản bị trừ nghĩa vụ (nếu có).
Việc minh bạch ngay từ đầu sẽ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên.
3.4. Thiết lập cơ chế quản lý tài sản hợp lý trong thời gian chấp hành án:
Do không thể trực tiếp quản lý tài sản, người đang chấp hành án nên:
- Chỉ định người quản lý tài sản thông qua ủy quyền;
- Lập thỏa thuận giữa các đồng thừa kế về việc bảo quản, sử dụng tài sản;
- Quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của người quản lý.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với bất động sản, tài sản kinh doanh, cổ phần, hoặc tài sản có khả năng sinh lợi. Nếu không có cơ chế quản lý minh bạch, nguy cơ tranh chấp hoặc thất thoát tài sản là rất lớn.
3.5. Chủ động tham vấn Luật sư để bảo vệ quyền lợi:
Trong các vụ việc thừa kế có yếu tố người đang thi hành án, thủ tục thường phức tạp và dễ phát sinh tranh chấp. Việc tham vấn Luật sư sẽ giúp:
- Xác định đúng quyền hưởng thừa kế;
- Đánh giá khả năng bị tước quyền theo luật;
- Chuẩn bị hồ sơ hợp lệ;
- Đại diện tham gia giải quyết tranh chấp nếu cần thiết.
Đặc biệt, trong trường hợp các đồng thừa kế khác cố tình loại trừ hoặc trì hoãn quyền hưởng di sản của người đang đi tù, sự tham gia của luật sư có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Như vậy: Người đang chấp hành án phạt tù không vì thế mà mất quyền hưởng di sản thừa kế (mục 1). Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế tự do thân thể, việc thực hiện quyền này đòi hỏi sự chủ động, tuân thủ đúng quy trình pháp lý và có phương án quản lý tài sản hợp lý. Việc áp dụng các giải pháp như ủy quyền hợp pháp, phối hợp công chứng, xử lý nghĩa vụ thi hành án và thiết lập cơ chế quản lý tài sản rõ ràng sẽ giúp bảo đảm quyền lợi của người thừa kế; đồng thời hạn chế tối đa rủi ro pháp lý phát sinh.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


