Quy định đền bù thiệt hại về tài sản do truy đuổi tội phạm

Trong quá trình truy đuổi tội phạm, các lực lượng chức năng cần phải có các phương tiện để có thể thực hiện hoạt động chuyển đổi một cách rõ ràng, trong trường hợp cần thiết thì có thể mượn phương tiện và công cụ của những người khác. Vậy pháp luật hiện nay quy định như thế nào về vấn đề đền bù thiệt hại về tài sản do truy đuổi tội phạm gây ra?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Quy định đền bù thiệt hại về tài sản do truy đuổi tội phạm:

Pháp luật hiện nay đã quy định cụ thể về vấn đề đền bù thiệt hại về tài sản do truy đuổi tội phạm gây ra. Theo quy định của pháp luật, khi các cá nhân và cơ quan, tổ chức tham gia vào hoạt động phòng chống ma túy, phòng chống tội phạm mà gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng, tổn hại về sức khỏe, thương tích cho người khác thì sẽ được nhà nước đền bù căn cứ theo quy định tại Điều 2 của Nghị định 103/2002/NĐ-CP của Chính phủ.

Theo đó, căn cứ theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 103/2002/NĐ-CP của Chính phủ, có quy định cụ thể về vấn đề đền bù thiệt hại liên quan đến tài sản trong quá trình tham gia vào hoạt động phòng chống tội phạm. Cụ thể như sau:

– Thiệt hại trong quá trình tham gia hoạt động phòng chống tội phạm sẽ được đền bù bao gồm tài sản bị mất, tài sản bị hủy hoại, tài sản bị hư hỏng do hoạt động tham gia vào quá trình phòng chống tội phạm ma túy, đồng thời kèm theo các chi phí hợp lý để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại, khắc phục thiệt hại phát sinh trên thực tế;

– Giá trị tài sản bị thiệt hại sẽ được xác định dựa trên giá thị trường của tài sản đó, được xác định vào thời điểm tài sản bị thiệt hại, kể cả tính khấu hao tài sản;

– Nếu tài sản bị thiệt hại có khả năng phục hồi được nguyên trạng thì sẽ tiến hành hoạt động phục hồi nguyên trạng đối với tài sản đó. Nếu tài sản đó bị mất hoặc bị hủy hoại, không thể phục hồi được nguyên trạng đối với tài sản thì sẽ được đền bù.

Đồng thời, căn cứ theo quy định tại mục III của Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng, có hướng dẫn cụ thể về chế độ đền bù thiệt hại liên quan đến tài sản do tham gia công tác phòng chống ma túy. Cụ thể như sau:

– Thiệt hại về tài sản do tham gia công tác phòng chống ma túy sẽ được đền bù bao gồm các loại tài sản sau:

+ Tài sản bị mất, tài sản bị hủy hoại hoặc tài sản bị hư hỏng trong quá trình tham gia công tác phòng chống ma túy;

+ Chi phí hợp lý để phục vụ cho hoạt động ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, khắc phục thiệt hại xảy ra trên thực tế.

– Giá trị tài sản bị thiệt hại, sẽ được xác định dựa trên giá thị trường của tài sản cùng loại tại địa phương vào thời điểm tài sản đó bị thiệt hại trên thực tế sau khi đã trừ đi toàn bộ các chi phí khấu hao tài sản hợp lý. Nếu như tài sản bị thiệt hại có khả năng phục hồi nguyên trạng thì sẽ được đền bù với số tiền vừa đủ để phục hồi nguyên trạng đối với tài sản đó. Nếu tài sản đó đã bị mất hoặc không có khả năng phục hồi nguyên trạng thì tài sản đó sẽ được đền bù bằng tiền mặt hoặc bằng một loại tài sản khác có giá trị tương đương;

– Thủ tục quyết định việc đền bù thiệt hại liên quan đến tài sản trong quá trình tham gia công tác phòng chống ma túy sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Tức là sau khi nhận được đơn đề nghị đền bù của đối tượng bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của đối tượng đó do tham gia công tác phòng chống ma túy, trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày được tính kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được đơn đề nghị, cơ quan có thẩm quyền sẽ phải có trách nhiệm đề nghị cấp có thẩm quyền căn cứ theo quy định tại mục A phần II của Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng, để ra quyết định về việc đền bù tài sản. Trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành thành lập hội đồng tư vấn để xem xét phương án giải quyết đền bù thiệt hại sao cho phù hợp. Hội đồng tư vấn giải quyết đền bù thiệt hại trong trường hợp này sẽ bao gồm các chủ thể sau:

+ Đại diện cơ quan có trách nhiệm và nghĩa vụ giải quyết đền bù thiệt hại căn cứ theo quy định tại khoản 1 mục A phần II Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng;

+ Đại diện của các cơ quan tài chính trong quá trình bồi thường thiệt hại;

+ Đại diện của các cơ quan chuyên ngành khoa học kĩ thuật có liên quan. Tuy nhiên, hội đồng tư vấn sẽ xem xét quá trình đền bù thiệt hại đối với thiệt hại xảy ra trên thực tế sao cho phù hợp, hội đồng tư vấn sẽ phải có nghĩa vụ xem xét, kiểm tra và đánh giá thiệt hại phù hợp với thiệt hại thực tế, sau đó kiến nghị về mức đền bù thiệt hại sao cho phù hợp. Hội đồng sẽ thảo luận và đưa ra kết luận cuối cùng, kết luận sẽ được thực hiện theo đa số, biên bản của cuộc họp sẽ được lập thành biên bản, gửi đến chủ thể có thẩm quyền để ra quyết định bồi thường thiệt hại cuối cùng. Đối tượng bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của đối tượng bị thiệt hại đó cũng sẽ được mời đến tham dự vào quá trình cuộc họp của hội đồng tư vấn để xem xét, đưa ra ý kiến trong quá trình giải quyết đền bù thiệt hại, ý kiến của những người bị thiệt hại cũng sẽ được ghi nhận vào biên bản cuộc họp.

Theo đó thì có thể nói, theo tất cả quy định của điều luật nêu trên, trong trường hợp tài sản bị thiệt hại do sử dụng vào hoạt động truy đuổi tội phạm thì sẽ được đền bù bởi nhà nước, theo nguyên tắc đền bù nêu trên.

2. Thẩm quyền giải quyết việc đền bù cho đối tượng bị thiệt hại về tài sản do truy đuổi tội phạm:

Căn cứ theo quy định tại Điều 7 của Nghị định 103/2002/NĐ-CP của Chính phủ, thẩm quyền giải quyết việc đền bù cho các đối tượng bị thiệt hại về tài sản do hoạt động truy đuổi tội phạm gây ra được thực hiện như sau:

– Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra thuộc công an cấp huyện, thủ trưởng cơ quan điều tra hình sự thuộc bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đền bù thiệt hại về tài sản đối với các loại thiệt hại có giá trị dưới 2.000.000 đồng, đối với các vụ án hình sự do mình có thẩm quyền thụ lý;

– Thủ trưởng cơ quan điều tra thuộc công an cấp tỉnh trở lên, thủ trưởng cơ quan điều tra hình sự thuộc Tổng cục hoặc cấp tương đương trong quân đội, thủ trưởng cơ quan chuyên trách phòng chống tội phạm về ma túy thuộc Bộ công an là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đền bù thiệt hại về tài sản nếu tài sản đó có giá trị dưới 5.000.000 đồng, đối với các vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý của mình;

– Giám đốc công an cấp tỉnh, tổng cục trưởng tổng cục cảnh sát, thủ trưởng cơ quan điều tra hình sự thuộc Bộ quốc phòng, cục trưởng Cục hải quan cấp tỉnh, chỉ huy trưởng của Bộ đội biên phòng cấp tỉnh hoặc cấp tương đương là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đền bù thiệt hại đối với các loại tài sản có giá trị đến 10.000.000 đồng, đối với tất cả các vụ án do mình có thẩm quyền điều tra và thụ lý;

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đền bù thiệt hại về tài sản đối với các loại tài sản có giá trị dưới 10.000.000 đồng, đối với các vụ án liên quan đến ma túy xảy ra trên địa bàn do mình quản lý;

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đền bù thiệt hại về tài sản đối với tài sản có thiệt hại giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên liên quan đến các vụ việc về ma túy xảy ra trên địa bàn do mình quản lý.

3. Hồ sơ yêu cầu đền bù thiệt hại về tài sản do truy đuổi tội phạm: 

Căn cứ theo quy định tại mục V của Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng, thành phần hồ sơ giải quyết đền bù và trợ cấp cho đối tượng bị thiệt hại sẽ bao gồm các tài liệu và giấy tờ cơ bản như sau:

– Đơn yêu cầu đền bù và trợ cấp của các đối tượng bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của đối tượng đó theo mẫu số 01, mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn thực hiện một số điểm của Nghị định 103/2002/NĐ-CP ngày 17/12/2002 của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản;

– Biên bản kết luận của hội đồng tư vấn về vấn đề xem xét phương án giải quyết đền bù theo mẫu số 03, ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn thực hiện một số điểm của Nghị định 103/2002/NĐ-CP ngày 17/12/2002 của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản;

– Quyết định đền bù của người có thẩm quyền theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn thực hiện một số điểm của Nghị định 103/2002/NĐ-CP ngày 17/12/2002 của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản;

– Giấy biên nhận tiền đền bù đối với các đối tượng được nhận tiền đền bù hoặc người đại diện hợp pháp của đối tượng đó;

– Các tài liệu và giấy tờ khác có liên quan.

Các văn bản pháp luật được sử dụng trong bài viết: 

– Bộ luật Hình sự năm 2015;

– Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP của Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn thực hiện một số điểm của Nghị định 103/2002/NĐ-CP ngày 17/12/2002 của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản;

– Nghị định 103/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo