Tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự là gì?

Tranh tụng tại phiên tòa là hình thức tố tụng mà Tòa án thay mặt Nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tranh tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm, nguyên tắc hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xván hình sự: 

Hoạt động tranh tụng diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tranh tụng trong tố tụng Dân sự, tranh tụng trong tố tụng Hành chính, Lao động, Kinh doanh thương mại, ... Trong phạm vi của luận văn này tác giả chỉ đề cập đến tranh tụng trong tố tụng Hình sự

Trong tiếng Anh tranh tụngadversarialnghĩa là đối kháng, đương đầu. Theo từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Nhà xuất bản pháp, Viện khoa học pháp xuất bản năm 2006, tranh tụngnghĩa c hoạt động ttụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội bên bị buộc tội) quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm, lợi ích của phía đối lập. Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xbởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng i

nhiều quan niệm cho rằng, nguyên tắc đặc trưng cho TTHS sản tranh tụng. Trước đó, hệ thống pháp nước ta được tổ chức hoạt động theo truyền thống luật Châu Âu lục địa, tức hệ thống luật sử dụng hình tố tụng xét hỏi. Do vậy, trước năm 2002 thuật ngữ tranh tụngchưa từng được sử dụng trong các văn bản pháp luật của nước ta. Vấn đề tranh tụng đã được đề cập đến trong các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành sau khi BLTTHS 1988 ra đời. Đặc biệt khi Nghị quyết s08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam được ban hành đã khẳng định rằng: Các quan pháp trách nhiệm tạo điều kiện để Luật tham gia vào quá trình tố tụng... Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật , Người bào chữa Những người tham gia tố tụng khác... Khi xét xử a án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, dân chủ, khách quan; Thẩm phán Hội thẩm nhân n độc lập chỉ tuân theo pháp luật; việc xét xử của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên a, trên sở xem xét đầy đtoàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Người bào chữa, Bị cáo ... [3, tr.9]. Vấn đề này được xác định hơn tại Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về chiến lược Cải cách pháp đến năm 2020trong đó xác định Tòa án vai trò trung tâm xét xử hoạt động trọng tâm. Đặc biệt, tại Hiến pháp 2013, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp của Nhà nước, đồng thời, ngày 27/12/2015, Bộ luật Ttụng hình sự 2015 đã được Quốc hội thông qua trong đó nguyên tắc tranh tụng được thể hiện ràng tại Điều 26

Như vậy, tranh tụng trong TTHS không còn vấn đề mới, nhưng đây vấn đề gây ra nhiều tranh cãi với nhiều cách giải khác nhau. Để làm sáng tỏ khái niệm này, các nhà nghiên cứu thường sẽ đề cập đến các vấn đề về hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, quá trình tranh tụng...nghĩa giải thích tranh tụng dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khái quát thể thấy rằng các nội dung này không tách rời đan xenliên hệ chặt chẽ với nhau. Với hình tranh tụng, các chức năng buộc tội và bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng với sự tuân thủ áp dụng nguyên tắc tranh tụng để p phần làm sáng tsự thật khách quan của vụ án

Quá trình tranh tụng trong TTHS bắt đầu khi xuất hiện sự buộc tội của quan Nhà nước thẩm quyền đối với một nhân cụ thể hoặc một số người xác định (thể hiện bằng việc ra Quyết định khởi tố bị can, Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm giữ). Kể từ thời điểm này phía người bị buộc tội (Bị can, Người bị tạm giữ) xuất hiện sự bào chữa để chống lại sự buc tội đó, bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp của mình. Hay nói theo cách khác, tranh tụng chỉ bắt đầu khi xuất hiện hai đối trọng bên buc tội bên bào chữa với hai chức năng tương ứng chức năng buộc tội chức năng bào chữa. Quá trình tranh tụng được xem kết thúc khi Bản án hay Quyết định của Tòa án về vụ án đã hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị

Do đó cần khẳng định: Hoạt động TTHS hoạt động gắn kết chặt chẽ của ba chức năng: buộc tội, bào chữa xét xử. Bào chữa chỉ xuất hiện khi sự buộc tội bào chữa được thực hiện để góp phần cho công tác xét xử đưa ra được một phán quyết khách quan, chính xác, đúng pháp luật. buc tội thì xét xử ngược lại chỉ xét xử khi sự cáo buộc. Trong TTHS nếu buộc tội mà không bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính áp đặt, thiếu tính thuyết phục, thiếu tính dân chủ. Từ đây thể thấy rằng, sự tồn tại của tranh tụng trong TTHS một thực tế khách quan, đòi hỏi được thừa nhận trên thực tế được ghi nhận trong Luật. Khi chính thức được ghi nhận thì tranh tụng nguyên tắc cơ bản của TTHS. Nguyên tắc này đòi hỏi sự bình đẳng giữa các chức năng buộc tội gỡ tội

Chức năng buộc tội còn gọi chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự, một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm phán xử hình phạt đối với người đó. Chức năng này không chỉ thuc về Viện kiểm sát trước hết thuộc về quan điều tra, Bị hại (trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu cuả Bị hại) Đại diện hợp pháp cũng như Người bảo vệ quyền lợi của họ

Về nội dung, chức năng buộc tội bao gồm tổng thể những hoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội. Đầu tiên khởi tố bị can, tiếp theo hoạt động điều tra, truy tố bị can bằng bản cáo trạng cuối cùng chứnminh cáo trạng đó đúng trước Tòa án. thể chia buộc tội thành hai phần buộc tội về nội dung buộc tội về tố tụng. Buộc tội về nội dung (đối tượng chứng minh) việc đưa ra những cáo buộc đối với nhân cụ thể về tội phạm và hành vi của người bị buộc tội dấu hiệu của tội phạm đó. Buộc tội về tố tụng tổng hợp các hành vi tố tụng cụ thể nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để chứng minh sự đúng đắn của buộc tội về nội dung đã đưa ra đối với người bị buộc tội. Buc tội về nội dung sở định hướng cho buộc tội về tố tụng ngược lại, buộc tội vtố tụng giúp cho buộc tội về nội dung đủ căn cứ pháp thực tiễn. 

Về tính chất, chức năng buộc tội thể được thực hiện dưới các hình thức: tố (tức do bị hại hoặc Người đại diện hợp pháp tự truy tố Bị cáo), công tố công t(do quan có thẩm quyền truy tố). Theo pháp luật Việt Nam, chức năng buc tội thể được thực hiện dưới một trong ba hình thức nêu trên hoặc được thực hiện đồng thời cả ba hình thức

Về thời điểm bắt đầu kết tc chức năng buộc tội xuất hiện từ khi quan thẩm quyền ra Quyết định khởi tố bị can (buộc tội chính thức). Có một số trường hợp đặc biệt thì chức năng buộc tội xuất hiện sớm hơn khi quan thẩm quyền ra Quyết định tạm giữ người bị tình nghi (buộc tội không chính thức thuộc trường hợp bắt khẩn cấp, bắt quả tang hoặc bắt người đang bị truy (Điều 110, 111, 112, 117 BLTTHS năm 2015). Khi kết thúc thủ tục tranh luận tại phiên tòa thẩm thì chức năng buộc tội cũng kết thúc. Trong một số trường hợp ngoại lệ, chức năng buộc tội kết thúc sớm hơn khi những căn cứ của việc buộc tội không còn dẫn đến hệ quả quan điều tra đình chỉ điều tra hoặc Viện kiểm sát hay Tòa án đình chỉ vụ án

Về vai trò, chức năng buc tội là một trong những chức năng bản của TTHS, nhân tố làm phát sinh quá trình tranh tụng, đối trọng với chức năng bào chữa tiền đề cần thiết cho chức năng xét xử. Không buộc tội thì sẽ không hoạt động tố tụng hoạt động tố tụng đó sẽ không định hướng

Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

BLTTHS m 2015 quy định

Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa những người tham gia tố tụng khác đều quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của vụ án

Các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sphải mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phi do bất khkháng hoặc do trở ngại khách quan. Tòa án trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình tranh tụng dân chủ trước Tòa án. Mọi chứng cứ xác định tội, chứng cứ xác định tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoảnđiều của Bộ luật Hình sđể xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử vật chứng các tình tiết khác ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm tại phiên a

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm trađánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa

vậy, tranh tụng trong TTHS Hoạt động do các chủ thể chức năng đối trọng nhau (buc tội bào chữa) thực hiện; dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong việc đưa ra, bảo vệ chứng cứ, lập luận của mình phản bác chứng cứ, lập luận của đối phương, nhằm góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; được bắt đầu từ khi Quyết định khởi tố bị can kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị

Qua các lẽ nêu trên, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa thể được hiểu như sau: Tranh tụng tại phiên tòa hình thức tố tụng trong đó Tòa án thay mặt Nhà nước xác định sự thật của vụ án trên sở điều tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tranh tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ đúng pháp luật.

2. Đặc điểm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án Hình sự: 

Thứ nhất, tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành với nhiều cách thức khác nhau để khẳng định tính pháp ca chứng cứ và nội dung ván. Tố tụng tranh tụng hệ thống tố tụng mà Tòa án quan xét xử tiến hành tố tụng chính. Chỉ Tòa án mới chủ thể tiến hành tố tụng với ý nghĩa đầy đủ nhất theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. vậy, mọi điều tra của Luật của quan điều tra thể được tiến hành theo nhiều cách khác nhau, với những phương pháp thu thập chứng cứ khác nhau, nhưng đều phải được kiểm chứng tại phiên a và thông qua sự xem xét đánh giá của Hội đồng xét xử thì mới được công nhận về mặt pháp được phục vụ cho vụ án, khi đó chứng cứ do các bên cung cấp mới ý nghĩa đối với phán quyết của Tòa án. Chính việc điều tra tại phiên tòa chủ yếu, thông qua việc xem xét đánh giá chứng cứ do các bên đưa ra nên phiên tòa theo thủ tục tố tụng tranh tụng thường rất dài triệu tập nhiều nhân chứng

Thứ hai, tranh tụng tại phiên tòa hình thành hai bên với những lợi ích đối kháng rệt bên buộc tội bên bị buộc tội. Trong tranh tụng, Kiểm sát viên và Luật hoàn toàn bình đẳng với nhau, họ được pháp lut trao những quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình. Kiểm sát viên dưới danh nghĩa người đại diện cho quyền lợi của Nhà nước đưa ra các quan điểm, các lập luận, các chứng cứ để buộc tội Bị cáo. Còn bên bị buộc tội Bị cáo và Luật sư cũng dùng mọi lẽ, phương tiện được luật pháp cho phép để phản bác lại. Hai bên sẽ trực tiếp, liên tc chất vấn trả lời chất vấn nhau công khai ti phiên tòa để làm những vấn đề. Tất cả các tình tiết, các chứng cứ Tòa án áp dụng để ra bản án đều phải được các bên tranh tụng tại phiên tòa

Thứ ba, Thẩm phán giữ vai trò của người trọng tài. Phần tranh tụng chứng cứ đều do c bên trực tiếp đưa ra trong quá trình tranh tụng giữa Kiểm sát viên Bị cáo, Luật . Thẩm phán chỉ kiểm tra lại tính hợp pháp tính căn cứ của các chứng cứ này. Thẩm phán vai trò chính trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án tại phiên tòa. Thẩm phán thể sẽ trực tiếp chất vấn nếu như lời khai của bị cáo còn mâu thuẫn hay Bị cáo chối tội. Trong phần tranh tụng mỗi bên quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như cho những người tham gia tố tụng khác. Trong nhiều trường hợp họ quyền ngắt lời bên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đưa ra nhưng Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận các vấn đề các bên đưa ra tranh luận

Thứ , tranh tụng sự tham gia của Hội thẩm nhân n (trừ án phúc thẩm) tham gia phn tòa quyết định cả về việc Bị cáo tội hay không tội, quyết định cả về việc lượng hình đối với Bị cáo, thủ tục tố tụng thẩm vấn Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa địa vị pháp ngang với Hội thẩm nhân dân.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo