Ra quyết định mở thủ tục phá sản được quy định như thế nào?

Luật Phá sản năm 2014 đã quy định các nội dung của Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tương đối đã đầy đủ, rõ ràng. Chủ yếu nội dung đơn yêu cầu thể hiện được vấn đề cần phải giải quyết, đó chính là yêu cầu mở thủ tục phá sản và căn cứ để yêu cầu mở thủ tục phá sản là gì.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Các quy định về nội dung đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: 

Nội dung đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật Phá sản năm 2014 đã quy định cho từng nhóm chủ thể tương đối đã đầy đủ, ràng. Chủ yếu nội dung đơn yêu cầu thể hiện được vấn đề cần phải giải quyết, đó chính yêu cu mở thủ tục phá sản căn cứ để yêu cầu mở thủ tục phá sản gì. 

Đối với tài liệu kèm theo Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật quy định phải nộp kèm theo Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong toàn bộ thời gian hoạt động

Một số quan điểm cho rằng đối với Báo cáo tài chính của doanh nghiệp hết sức cần thiết phải thực hiện kiểm toán trước khi mở thủ tục phá sản, bởi thẩm phán không thể đủ năng lực để thẩm định o cáo tài chính của doanh nghiệp được, như vậy dễ dẫn đến việc gian dối của con nợ trong việc lập Báo cáo tài chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định mở thủ tục phá sản của thẩm phán

Theo tác giả, đối với Báo cáo tài chính của doanh nghiệp không cần thiết phải kiểm toán ngay trước khi mở thủ tục phá sản, vấn đề này thể đặt ra sau khi mở thủ tục phá sản, bởi việc mở thủ tục phá sản chính thủ tục để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán, vậy chỉ cần đủ căn cứ cho rằng doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán thì thẩm phán thể quyết định mở thủ tục phá sản. Như vậy, người nộp đơn chỉ cần gởi kèm theo Báo cáo tài chính là đã đủ điều kiện để thụ mở thủ tục phá sản

2. Các quy định về chủ thể được yêu cầu mở thủ tục phá sản: 

Theo Luật Phá sản 2014 đã phân thành 06 nhóm chủ thể quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, theo quy định này, ta thể phân chia các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thành hai nhóm

+ Nhóm quyền: Chủ nợ không bảo đảm, chủ nợ bảo đảm một phần; Người lao động, công đoàn sở, công đoàn cấp trên trực tiếp sở những nơi chưa thành lập công đoàn sở; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng; Thành viên hợp tác xã, thành viên của liên hiệp hợp tác xã. Nhóm này nhóm thực hiện quyền nên họ thể thực hiện nộp đơn hoặc thể không thực hiện nộp đơn quyền của họ, pháp luật không thể can thiệp quyền này của họ

Quy định không cho chủ nợ đảm bảo quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo tác giả chưa phù hợp, bởi thủ tục phá sản một phương thức đòi nợ đặc biệt, việc không cho chủ nợ bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã làm mất đi quyền lựa chọn pơng thức đòi nợ hữu hiệu y của chủ nợ bảo đảm. Đồng thời, theo quy định thì Chủ nợ đảm bảo lại không quyền xử tài sản đảm bảo cho khoản nợ của mình trong trường hợp phương án phục hồi SXKD được thông qua, như vậy thì xét trường hợp cho rằng họ đã được đảm bảo bằng tài sản nên không cho quyền nộp đơn yêu cầu của h, thiết nghĩ phần nào đó chưa đem lại công bằng cho lại chủ nợ này. Mặt khác, việc cho phép các chủ nợ bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ góp phần phát hiện sớm tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã, nhờ đó phần nào thể hạn chế thiệt hại của chủ thể khác nếu rủi ro xảy ra

Người lao động, công đoàn sở, công đoàn cấp trên trực tiếp sở những nơi chưa thành lập công đoàn sở nhóm quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản, tuy nhiên, xét về tính khả thi của quy định này thì chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế; thời buổi kinh tế suy thoái nhiều biến động như hiện nay, việc các doanh nghiệp, hợp tác xãkinh doanh khó khăn tình trạng nợ lương người lao động diễn ra khá phổ biến cũng một điều khá dễ hiểu. Liệu người lao đng thể phát huy được vai trò của mình trong việc tham gia giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã trên thực tế hay không? một mục tiêu quan trọng mang tính nhân đạo của Luật Phá sản đó cứu con nợ thoát khỏi bờ vực phá sản; liệu Luật Phá sản 2014 quy định như vậy có thể hiện đúng tinh thần nhiệm vcủa Luật Phá sản hay không

+ Nhóm nghĩa vụ: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; Chủ doanh nghiệp nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh

Luật Phá sản năm 2014 quy định

Những người theo quy định tại khoản 3 khoản 4 Điều 5 của Lut này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thì phải bồi thường

Bên cạnh đó, Nghị định 82/2020/CP ngày 15/7/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ pháp, hành chính pháp, hôn nhân gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của chủ doanh nghiệp nhân, chủ tịch hội đồng quản trị của công ty cổ phần, chủ tịch hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khnăng thanh toán

Việc không thực hiện nghĩa vụ đã được Luật Phá sản quan tâm, tuy nhiên với mức xử phạt nêu trên theo tác giả nghĩ rằng chưa thật sự đủ răn đe đối với hành vi y

3. Các quy định về thẩm quyền mở thủ tục phá sản: 

Theo tác giả, việc phân định thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo tiêu chí trụ sở chính ngoại lệ một số trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh được quy định tại Điều 8, Luật PS phù hợp với thực tiễn, quy định này nhằm giảm áp lực thụ án của Tòa án cấp tỉnh, đáp ứng mục tiêu lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh tốt hơn. Thật vậy, nếu với thống của ngành đăng kinh doanh tsố lượng doanh nghiệp phá sản rất lớn nhưng họ không nộp đơn yêu cầu, nếu chỉ một phần số lượng doanh nghiệp này nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì ngành Tòa án chắc chắn sẽ bị thiết hụt nhân sự để thụ giải quyết, đặc biệt nhân sự ở cấp tỉnh

Tại điểm b, điều 8 Luật Phá sản, quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán chi nhánh, n phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị , thành phố thuộc tỉnh khác nhau, theo tác giả quy định này chưa phù hợp một vế đó chính Văn phòng đại diện, bởi theo quy định khoản 2, Điều 44, Luật doanh nghiệp 2020 thì Văn phòng đại diện không thực hiện chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, không thực hiện chức năng kinh doanh cho nên Văn phòng đại diện không tài sản, không nguồn vốn, công nợ ... thế việc xem xét thẩm quyền thể giao cho Tòa án cấp huyện giải quyết ổn

Trường hợp, khi TAND cấp huyện đã thụ yêu cầu mở thủ tục phá sản thì chưa phát hiện được vụ việc tài sản nước ngoài, người tham gia phá sản nước ngoài, con nợ tài sản nhiều tỉnh thành khác nhau … khi đó làm thay đổi thẩm quyền thuộc TAND cấp tỉnh. TAND Tối cao đã nghị quyết hướng dẫn trường hợp này TAND cấp huyện tiếp tục giải quyết, tuy nhiên theo tác giả thì việc hướng dẫn này của TAND tối cao không phù hợp, bởi khi Luật Phá sản 2014 quy định các trường hợp này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh đã cân nhắc đến mọi nguồn lực để giải quyết vụ việc phá sản cho phù hợp với các quy định pháp luật khác cũng như các điều ước quốc tế liên quan, việc áp dụng pháp luật sẽ không đồng nhất. Mặt khác, việc hướng dẫn này của TAND Tối cao thể sẽ những trường hợp tiêu cực xảy ra, chủ thể nộp đơn muốn TAND cấp huyện giải quyết nên chủ thể nộp đơn yêu cầu tính giấu đi thông tin thẩm quyền thuộc TAND cấp tỉnh

4. Các quy định về căn cứ mở thủ tục phá sản – tình trạng mất khả năng thanh toán: 

Theo Luật Phá sản năm 2014 thì tiêu chí định tính kết hợp với định lượng thể hiện qua việc luật quy định mất khng thanh toán một khoảng thời gian 03 tháng, cụ thể nếu doanh nghiệp không khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn trong một khoảng thời gian cụ thể 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán thì được coi mất khả năng thanh toán. Quy định này bảo vệ chặt chẽ hơn quyền của chủ nợ, đảm bảo trách nhiệm trả nợ đúng hạn của người mắc nợ, chủ nợ không cần phải chứng minh đã yêu cầu thanh toán nhưng không được doanh nghiệp thanh toán

Mặc dù hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán, dụ như mất khả năng thanh toán xác định theo dòng tiền ngoài việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản ntrong thời hạn 03 tháng kể tngày đến hạn thanh toán, còn phải thêm tiêu chí có giá trị tài sản nhỏ hơn tổng số nợ đến hạn, theo tác giả không cần thiết, bởi, quy định tình trạng mất khả năng thanh toán chủ yếu vẫn mục đích để làm căn cứ mở thủ tục phá sản chứ không phải để làm căn cứ xác định doanh nghiệp bị phá sản

Bên cạnh đó, thời hạn nợ 03 tháng so với thực tiễn kinh doanh quá ngắn, bởi hiện nay rất nhiều LC chậm trả, thời hạn chậm trả có thể lên đến 12 tháng, so với quy định cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thời hạn cho va

thể lên đến 12 tháng, bởi vậy nếu quy định thời hạn ngắn quá doanh nghiệp không kịp thời xoay xở đồng vốn để thanh toán cho các chủ nợ, khi lúc này chỉ mới gọi là khó khăn thanh toán chứ chưa phải là mất khả năng thanh tn, khi chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì thể làm cho doanh nghiệp từ khó khăn thanh toán chuyển sang phá sản thật sự

Tuy nhiên, xét về bản chất thủ tục phá sản thtục đòi nợ tập thể thì căn cứ mở thủ tục phá sảnquy định tại Luật Phá sản 2014, vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu này trước khi thực hiện ra quyết định mở thủ tục phá sản, bởi chỉ 01 chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tđã buộc Tòa án phải tiến hành ra quyết định mở thủ tục phá sản

5. Các quy định về tạm ứng chi phí phá sản: 

Luật Phá sản năm 2014 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, TAND dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản thông báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp tạm ứng chi phí phá sản. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc nộp tạm ứng chi phí phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải thực hiện việc tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do TAND mở tại ngân hàng. “Tạm ứng chi phí phá sảnlà khoản tiền do TAND quyết định để đăng báo, tạm ứng chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản , thanh tài sản

Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 không quy định cụ thể về cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Nghị định số 22/2015/NĐCP ngày 16/02/2015 của Chính phhướng dẫn quy định về quản tài viên hành nghề quản , thanh tài sản chỉ bao hàm quy định hướng dẫn về cách tính mức thù lao đi với quản tài viên không bất cứ quy định nào hướng dẫn cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 Nghị định số 22/2015/CP cũng quy định chưa cụ thể về thủ tục mở, quản tài khoản do a án mở tại Ngân hàng để thu tiền tạm ứng chi phí phá sản. Điều này gây ng túng cho Tòa án trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như tài khoản mở tại ngân hàng được sử dụng cho một vụ hay nhiều vụ phá sản

6. Các quy định về thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán: 

Luật Phá sản năm 2014 quy định phương án thương lượng giữa các bên trước khi tòa thụ đơn yêu cầu của chủ nợ. Theo đó, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày TAND nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quyền đề nghị bằng văn bản gửi TAND để các bên thương lượng việc rút đơn. TAND ấn định thời gian thương lượng nhưng không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ. Trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì TAND trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trường hợp thương lượng không tnh hoặc hết thời hạn thương lượng các bên không tiến hành thương lượng thì TAND thông báo cho người nộp đơn nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thụ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định

Theo ý kiến tác giả thì quy định về thương lượng tại Điều luật này giúp doanh nghiệp hội đàm phán với chủ nợ để đạt thỏa thuận về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Tuy nhiên, quy định này còn bắt buộc các bên phải đơn đề nghị thì chưa hợp , bởi nguyên tắc lập pháp hiện đại nhằm giúp cho con nợ thoát khỏi tình trạng mất khnăng thanh toán, vậy đây thể hội để con nợ đàm phán thương lượng với chủ nợ, thiết nghĩ Tòa án thể trực tiếp ấn định thời gian để các bên thương lượng với nhau thì hợp hơn

7. Các quy định về công bố thông tin quyết định mở thủ tục phá sản: 

Về công bố thông tin mở thủ tục phá sản, quy định pháp luật Phá sản hiện hành cũng đã đảm bảo thông tin được đến nơi cần đến. Thiết nghĩ, mục đích công bố thông tin ngoài mục đích giúp cho những người tham gia thủ tục phá sản kịp thời biết thực hiện các quyền, nghĩa vụ ca mình, còn một mục đích khác các nhà lập pháp hiện đại quan tâm đến, đó chính thông tin đến những tổ chức, nhân khả năng thực hiện việc tái cấu, mua lại ... nhằm giúp cho con nợ tht khỏi tình trạng mt khả ng thanh toán, giúp cho chnợ thu hồi được nhiều nợ hơn

Quy định pháp luật Phá sản hiện hành, ni dung công bố thông tin quyết định mở thủ tục phá sản, tại quyết định này chỉ thể hiện

+ Ngày, tháng, năm; + Tên của TAND; họ tên thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản

+ Ngày và sthụ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của ni làm đơn yêu cầu

+ Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

+ Thời gian, địa điểm khai báo của c chủ nợ hậu quả pháp của việc không khai báo.” 

Với nội dung này chưa thể hiện được các thông tin cần thiết để tác động đến những tổ chức, nhân nhu cầu mua lại, tái cấu trúc lại, .... doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, vì vậy, chưa đáp ứng được những yêu cầu của Luật Phá sản nhằm giúp cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhiều hội được hồi phục kinh doanh

8. Các quy định về chỉ định người quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán: 

Việc ban hành quyết định mở thủ tục phá sản đã dẫn đến hệ quả phải người quản sản nghiệp của doanh nghiệp mất khng thanh toán nhằm đảm bảo các mục tiêu việc mở thủ tục phá sản đề ra như đảm bảo được việc bảo vệ quyền lợi chủ nợ, con nợ ..., ngoài ra còn phải đảm bảo được

Thnhất, Cân bằng quyền lợi của các chủ nợ. Khi bị mở thủ tục phá sản, các chủ nợ sẽ liên tiếp liên hệ con nợ để đòi nợ, đòi siết tài sản để cấn nợ, hoặc đe dọa người quản của doanh nghiệp, hoặc đòi bán tài sản đã thế chấp của con nợ mất khả năng thanh toán, gây cản trở hoạt động kinh doanh. Yêu cầu đặt ra phải một quan độc lập đứng ra quản tài sản để thể bảo toàn tài sản, đảm bảo bình đẳng, đồng đều cho các chủ nợ trong việc phân chia tài sản trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản

Thhai, Đảm bảo được nguyên vẹn, sản nghiệp, khối tài sản phá sản. Khi mthủ tục phá sản, thể người quản doanh nghiệp hoc các nhân quản tài sản doanh nghiệp sẽ cố tình tẩu tán tài sản, hoặc không giữ gìn, bảo quản tài sản làm tài sản bị xuống cấp, hỏng (trường hợp tài sản dễ bị giảm sút về giá trị như động sản), điều này khiến cho tài sản còn lại của doanh nghiệp không còn nhiều hoặc bị mất cắp, mất trộm (do không được quản ). Do đó, cần phải sự quản tài sản của doanh nghiệp bởi một quan, cá nhân độc lập để đảm bảo i sản được bảo toàn ở mức cao nhất

Thứ ba, Bảo vệ được quyền lợi của người lao động, trật tự hội. Người lao động bộ phận dễ bị tổn thương nhất khi doanh nghiệp bị phá sản, doanh nghiệp bị phá sản sẽ không khả năng trả lương, chi trả các khoản phụ cấp cho họ. Người lao động bộ phận ít quyền lực, ít tiếng nói, vậy họ không thể đối chọi lại với các chủ nợ hay đối thoại với doanh nghiệp đề nghị thanh toán lương phụ cấp. Ngoài ra, việc tranh giành tài sn doanh nghiệp để cấn trừ nợ thể gây mất trật tự hội, bởi chủ nợ thể thuê người tới để đem tài sản đi hoặc bán sang tay cho người khác nhằm thu hồi nợ. Bởi vậy, phải có một đơn vị để quản tài sản doanh nghiệp, đm bảo được quyền lợi cho người lao động cũng như đảm bảo trật tự hội

Theo Điều 45 Luật Phá sản 2014 vchỉ định QTV, Tòa án phải chỉ định QTV trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, đồng thời, đã quy định trách nhiệm của Quản tài viên, trách nhiệm của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nên đã đảm bảo được các yêu cầu mục tiêu của việc mở thủ tục phá sản đặt ra

Do đây luận văn chỉ xem xét góc độ mở thủ tục phá sản nên tác gikhông mở rộng thêm về quyền và nghĩa vụ của quản tài viên trong Luật Phá sản đã quy định. Nhận thấy, chỉ cần quy định phải chỉ định Quản tài viên để thực hiện việc quản tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán ngay sau khi quyết định mở thủ tục phá sản đã đảm bảo yêu cầu lập pháp hiện đại

Tuy nhiên, cũng còn hạn chế trong trường hợp Quản tài viên, tổ chức hành nghề quản thanh tài sản từ chối tham gia vào vụ phá sản, như vậy thì thủ tục phá sản xem như không thực hiện được

9. Các quy định về hoạt động của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản: 

Mở thủ tục phá sản dẫn đến hệ qudoanh nghiệp mất khnăng thanh toán bị cấm một số lĩnh vực hoạt động bị giám sát (muốn hoạt động này được thực hiện thì phải sự đồng ý của Quản tài viên) một số lĩnh vực hoạt động

Việc quy định này của pháp luật Phá sản, theo tác giả phù hợp với tinh thần lập pháp hiện đại, bởi, thể bảo đảm rằng bảo toàn được tài sản của doanh nghiệp kể từ thời điểm mở thủ tục phá sản, đảm bảo được sự tin tưởng của chủ nợ đối với hoạt động của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sau khi mở thủ tục phá sản.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo