Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trước BLTTHS 2015 

Tương tự như lần pháp điển hoá năm 1988, BLTTHS năm 2003 không có một điều luật riêng về thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa nhưng BLTTHS 2003 đã kế thừa ở và bổ sung trong quy định tại Điểm d và đ điều 58 về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa thời kỳ trước khi pháp điển hóa Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988: 

Ngày 02/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập long trọng tuyên bố với quốc dân, đồng bào toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước của giai cấp Công nhân Nông dân Việt Nam. Ngay sau khi ra đời bên cạnh việc kiện toàn bộ máy chính quyền non trẻ, nhà nước đã chú trọng đến việc xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật nói chung pháp luật tố tụng hình sự nói riêng. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 33c về việc thành lập tòa án quân sự ở một số tỉnh thuộc Bắc bộ, Trung bộ Nam bộ. Tại điều 5 của Sắc lệnh đã quy định Bị cáo thể tự bào chữa hay nhờ người khác bênh vực cho. Sắc lệnh đã khẳng định quyền bào chữa cho bị cáo trong tố tụng hình sự được bảo đảm ghi nhận thực hiện từ rất sớm. Bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được quan quyền lực cao nhất Quốc hội ban hành vào ngày 09/11/1946 đã quy định tại điều thứ 67 nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật . Quy định sở pháp cao nhất vững chắc nhất cho bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự. Trong giai đoạn mới của cách mạng Hiến pháp năm 1959 được ban hành cho thích hợp với tình hình nhiệm vụ mới. Hiến pháp năm 1959 tiếp tục ghi nhận bảo đảm quyền bào chữa tại điều 101: Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử tự do trong cả nước, thực hiện thống nhất Tổ quốc. Tháng 7 năm 1976, nước ta lấy tên Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam cần một bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới. Đó Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội trong phạm vi cả nước. Hiến pháp năm 1980 tiếp tục kế thừa phát triển Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp năm 1959 để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại điều 133 quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Từ năm 1986 công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, ngày 15/4/1992 bản Hiến pháp năm 1992 được quốc hội thông qua. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục ghi nhận quyền bào chữa tại điều 132 Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Kế thừa các quy định về bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 2013 đề cao bảo vệ quyền con người bằng việc quy định mở rộng hơn các chủ thể quyền tự bào chữa, nhờ luật hoặc người khác bào chữa quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm

Mặc quyền bào chữa của bị cáo đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 các văn bản pháp PLTTHS nhưng lại không quy định về quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng cho đến trước khi pháp lệnh luật năm 1987. Pháp lệnh luật năm 1987 quy định tại điều 14 khi tham gia tố tụng luật các quyền

1Bình đẳng với các thành phần khác trước Toà án; không buộc phải làm chứng về những vấn đề biết được khi làm nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho các đương sự khác;

2 Nghiên cứu hồ vụ án, đề xuất chứng cứ, gặp riêng bị can, bị cáo, đương sự; đề nghị bổ sung hồ , trưng cầu giám định đưa ra những đề nghị cần thiết khác;

3Đề nghị thay đổi người tiến hành, người tham gia tố tụng;

4Tham gia thẩm vấn tranh luận tại phiên tòa, đề nghị biện pháp xử bị cáo, bồi thường thiệt hại các biện pháp giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình lao động;

5Đọc, yêu cầu bổ sung, đính chính biên bản phiên tòa;

6 Kháng cáo bản án quyết định của toà án trong trường hợp làm bào chữa hoặc đại diện cho bị cáo, đương sự người chưa thành niên, người nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Khi tham gia tố tụng, luật thể những quyền khác theo quy định của pháp luật

thể nói, pháp lệnh luật năm 1987 đã bước đầu đưa những quy định liên quan đến quyền thu thập đưa ra chứng cứ của người bào chữa ...đề xuất chứng cứ đưa ra những đề nghị cần thiết khác

2. Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988: 

Ngày 26 tháng 8 năm 1988 Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam đã được quốc hội thông qua hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989. BLTTHS năm 1988 của nước ta ra đời sau 13 năm kể từ ngày thống nhất đất nước đã đánh một dấu mốc quan trọng trong kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự nói chung người bào chữa nói riêng. 

Đầu tiên, nguyên tắc hiến định về quyền bào chữa được cụ thể hóa thành một nguyên tắc bản bảo đảm thực hiện quyền đó cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự nhiệm vụ của CQĐT, VKSND TAND. thể nói nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo: Bị can, bị cáo quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa(điều 12) sở cho người bào chữa tham gia tố tụng. Bên cạnh đó, còn quy định về đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa bao gồm: bị can, bị cáo (điều 34) người bào chữa (điều 35

Thứ hai, các quy định về người bào chữa. Bằng việc cụ thể hóa những người bào chữa nhà làm luật đã liệt luật , người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo bào chữa viên nhân dân. (khoản 1, điều 35), ngoài những người được liệt thì không ai khác thể người bào chữa cho bị can, bị cáo. chỉ những người người bào chữa mới được bào chữa cho bị can, bị cáo nên PLTTHS đã trao cho họ những quyền phù hợp với chức năng nghề nghiệp của người bào chữa

Thứ ba, Tại sao lại phải quy định cho người bào chữa các quyền? Để người bào chữa thực hiện được công việc bào chữa thì PLTTHS đã thiết lập một hành lang cụ thể để người bào chữa hoạt động đó các quyền nghĩa vụ của họ, với mục đích cao nhất của việc quy định này nhằm giúp người bào chữa tham gia vào hoạt động tố tụng được thuận lợi, thông qua hoạt động tố tụng để bảo vệ tốt nhất cho bị can bị cáo

+ Các quyền của người bào chữa được quy định tại khoản 2, điều 36: Quyền mặt khi hỏi cung bị can nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can mặt trong những hoạt động điều tra khác; Quyền đưa ra những chứng cứ những yêu cầu; Quyền gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng (khoản 3 Điều 29 khoản 2 Điều 36); Quyền được đọc hồ vụ án ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra; quyền tham gia xét hỏi tranh luận tại phiên toà; Quyền khiếu nại các quyết định của quan tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án quyết định của Toà án nếu bị cáo người chưa thành niên hoặc người nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần

+ Các nghĩa vụ của người bào chữa được quy định tại khoản 3 Điều 36

Người bào chữa nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo, giúp bị can, bị cáo về mặt pháp nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ. người bào chữa không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mình đã đảm nhận, nếu không do chính đáng

Thứ , các điều kiện để người bào chữa thực hiện quyền bào chữa, bao gồm các quy định: (1) được bị can, bị cáo nhờ người bào chữa thực hiện quyền bào chữa của họ, (2) được Thủ trưởng quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án hoặc Hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong vụ án để họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa

Thứ năm, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng. Khoản 1 điều 36 quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Đây cũng coi một điều kiện phụ nhưng khá quan trọng để người bào chữa thực hiện các quyền thời gian để sử dụng mọi biện pháp hợp pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo. Nếu người bào chữa được tham gia tố tụng muộn giai đoạn quyết định đưa vụ án ra xét xử thì sẽ không thời gian để sử dụng mọi biện pháp hợp pháp do luật định để phục vụ bào chữa

BLTTHS năm 1998 không quy định về quyền thu thập chứng cứ cho người bào chữa chỉ quy định người bào chữa quyền đưa ra chứng cứ những yêu cầu và được sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết bị can, bị cáo tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ. Có thể nói những quy định ban đầu trong lần pháp điển hóa đầu tiên của PLTTHS chưa nét về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa nhưng đã đặt nền móng cho việc quy định quyền thu thập chứng cứ cho những lần pháp điển hóa sau này. Bộ luật này đã phần nào mở ra một vế trong quyền tự bảo vệ mình qua những quy định rải rác về việc đưa ra tài liệu, đồ vật... của những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2, điều 49 BLTTHS năm 1988 Những người tham gia tố tụng, quan, tổ chức hoặc bất cứ nhân nào đều thể đưa ra tài liệu, đồ vật trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án

Kể từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất BLTTHS năm 1988, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hình sự tố tụng hình sự của nước ta đóng góp hiệu quả bằng việc tuyên truyền, nhận thức pháp luật thuộc lĩnh vực hình sự đến Nhân dân ta công dân nước ngoài sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam; căn cứ cơ bản để đấu tranh chống tội phạm nhưng vẫn bảo vệ được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo. Sau 15 năm áp dụng BLTTH năm 1988 đã bộc lộ những hạn chế về quyền thu thập chứng cứ đưa ra chứng cứ của người bào chữa, do chưa quy định nên việc người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mình bằng việc tham gia trong các giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án còn mờ nhạt. Đánh giá từ thực tiễn, thể thấy tố tụng hình sự nước ta đã bộc lộ nhiều tồn tại liên quan đến bỏ lọt tội phạm, làm oan người tội... Trong hoạt động tố tụng nhiều vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, đây chính điều kiện đặt ra yêu cầu cần thiết phải sửa đổi BLTTHS năm 1988

3. Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: 

BLTTHS năm 2003 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 thay thế Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1990, năm 1992, năm 2000. BLTTHS năm 2003 đã kế thừa phát triển một bước pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta, đã thể chế chủ trương của Đảng về cải cách pháp. Cũng giống như lần pháp điển hóa thứ nhất vào năm 1988, BLTTHS năm 2003 không một điều luật riêng về thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa nhưng BLTTHS năm 2003 đã kế thừa bổ sung trong quy định tại Điểm d đ điều 58 về quyền thu thập Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ quan, tổ chức, nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc mật nhà nước, mật công tác; đưa ra Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Việc quy định người bào chữa các quyền về thu thập, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu cho thấy Nhà nước ta đã kịp thời bổ sung những khiếm khuyết của BLTTHS năm 1988. Quy định này một bước tiến bộ cả về mặt lập pháp TTHS về mặt nội dung được thể hiện trong BLTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988. Những quy định mới như

Quyền bào chữa được mở rộng hơn đối tượng thụ hưởng người bào chữa. Nếu như BLTTHS năm 1998 chỉ quy định bị can, bị cáo thì bộ luật này ngoài chỉ bị can, bị cáo còn người bị tạm giữ (điều 48), thời điểm người bào chữa cũng đã thay được quy định theo hướng được tham gia sớm hơn để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho họ bằng quy định tại khoản 1 Điều 58: Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi quyết định tạm giữ. Quy định người bào chữa thể tham gia tố tụng từ khi người bị bắt quyết định tạm giữ đã cho thấy BLTTHS năm 2003 đã chú trọng đến bảo vệ quyền con người trong hoạt động TTHS từ rất sớm. Đi cùng với đó quyền của người bào chữa cũng xuất hiện từ giai đoạn này chứ không còn từ thời điểm khởi tố bị can

Quyền của người bào chữa được quy định như thế nào để giúp người bào chữa thực hiện việc bào chữa được thuận lợi quyền bào chữa của người bị buộc tội được bảo đảm điều người bào chữa kỳ vọng nhiều nhất vào bộ luật này. BLTTHS năm 2003 đã đáp ứng được phần lớn kỳ vọng của người bào chữa tại thời điểm đó khi người bào chữa được bổ sung một vế tạo nguồn để người bào chữa người bị buộc tội thể đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu đó chính quyền được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa

Phạm vi thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa được quy định cụ thể người bào chữa thể thu thập từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ quan, tổ chức, nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc mật nhà nước, mật công tác (điểm d, khoản 2 Điều 58)

+ một điều quy định đã hẹp phạm vi thu thập chứng cứ của người bào chữa trong BLTTHS năm 2003 đó việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa chứng cứ của người bào chữa đối với người thân thích của bị can, bị cáo hoặc từ quan, tổ chức cá nhân khác nhưng phải theo yêu cầu của bị can, bị cáo. Mặc pháp luật TTHS đã cho người bào chữa được quyền thu thập tài liệu, đồ vật nhưng lại chỉ được thực hiện theo yêu cầu của bị can, bị cáo

+ Đây cũng chính những nút thắt thực tiễn thị thành bộ luật này người bào chữa không thể thực hiện công việc của họ như kỳ vọng ban đầu trước khi bộ luật được thông qua

Xin được nêu một số vướng mắc người bào chữa không thể thực hiện do nút thắt này cản trở trong việc người bào chữa cần thu thập chứng cứ phục vụ cho việc bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm. người bào chữa nhận lời bào chữa cho bị cáo N.V.P V.CN bị tòa án cấp thẩm tuyên bố phạm tội Giết ngườiáp dụng điểm a, n khoản 1 điều 93, điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 46 xử phạt các bị cáo chung thân chung thân. Sau khi được cấp giấy chứng nhận bào chữa được sao chụp hồ vụ án, qua nghiên cứu hồ vụ án người bào chữa phát hiện nhiều tình tiết của vụ án còn mâu thuẫn, nhiều vấn đề cần làm được do các chứng cứ chưa thật sự đầy đủ. Sau đó, người bào chữa tiến hành thu thập chứng cứ từ các nhân khác nhưng nhân đó luật của họ người bào chữa phải chứng minh việc yêu cầu thu thập chứng cứ này phải do bị cáo yêu cầu thì họ mới xuất trình, cung cấp. người bào chữa thực hiện quyền được gặp người chưa được làm tại phiên tòa người bào chữa vào gặp các bị cáo đang bị tạm giam theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 58 BLTTHS, thông qua việc gặp các bị cáo người bào chữa trao đổi nội dung về sự cần thiết phải thu thập các tài liệu để làm căn cứ bào chữa nhằm giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đề nghị các bị cáo thể hiện yêu cầu người bào chữa thu thập tài liệu đó bằng văn bản với mục đích chứng cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các bị cáo đồng ý yêu cầu người bào chữa thu thập bằng hình thức viết đơn yêu cầu người bào chữa thu thập tại buổi gặp làm việc nhưng khi đang viết đơn thì cán bộ của nơi đang tạm giam bị cáo nhất định không cho các bị cáo viết đơn khi gặp người bào chữa. Gặp tình huống đó, người bào chữa đã giải thích các quy định của pháp luật nội dung của đơn đề nghị đó được cán bộ ngồi giám sát từ đầu buổi làm việc đã nghe rất tường tận, sau đó cán bộ giám sát đã đi xin ý kiến lãnh đạo quay trở lại trả lời không đồng ý sau đó cán bộ này giải thích các bị cáo muốn viết đơn thì vào trong buồng giam xin giấy tờ viết rồi gửi cho quản giáo để gửi lên người có thẩm quyền xem xét, nếu được thì mới cho gửi. Phải mất hơn 20 ngày sau người bào chữa mới nhận được đơn đề nghị thu thập tài liệu của bị cáo gửi ra từ nơi tạm giam sau khi phiên tòa được xét xử. Vụ án được xét xử với tài liệu quan trọng đó do người bào chữa cung cấp cho tòa án để bào chữa giảm nhẹ cho bị cáo được HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giảm hình phạt cho các bị cáo từ Chung thân xuống còn 20 năm . Nếu như người bào chữa không sử dụng mọi biện pháp được pháp luật quy định để thu thập tài liệu quan trọng đó để bào chữa cho bị cáo thì lẽ các bị cáo sẽ mất đi một hội được giảm nhẹ từ chung thân xuống 20 năm

Qua hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 đã làm tốt vai trò quan trọng của trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn hội, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước các quyền lợi ích hợp pháp của công dân; tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế hội, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cũng đã bộc lộ vướng mắc, bất cập không còn phù hợp với thực tiễn trong tình hình mới

Nhìn chung việc ban hành áp dụng các quy định về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa của nhà nước phụ thuộc vào chính sách pháp luật trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau. Ngày nay, đất nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN nên việc xây dựng hệ thống pháp luật chỉ để quản kiểm soát trật tự hội đã không còn nữa thay vào đó hệ thống pháp luật dân chủ, bình đẳng, công bằng, văn minh.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo