Chủ thể quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa 

Theo Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Người bào chữa theo quy định tại điều 72 BLTTHS năm 2015 : Người bào chữa người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc quan thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định được quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng bào chữa. Những người nào được người bào chữa? Theo quy định tại khoản 2 điều 72 BLTTHS năm 2015 thì người bào chữa thể : Luật ; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp

1. Người bào chữa là Luật sư: 

Nghề luật nguồn gốc từ thời Hy Lạp La cổ đại , đến ngày nay tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia trên thế giới sự nhận thức khác nhau về về vai trò của luật . Nghề luật được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau rất đa dạng. Mặc nhiều quan điểm khác nhau về nghề luật nhưng đều chung một quan điểm cho rằng, luật một nghề trong hội công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ công . Nghề luật rất chú ý đến vai trò nhân, uy tín nghề nghiệp tính chất của nghề tự do trong tổ chức hành nghề luật sư . Theo quy định tại điều 2 Luật luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 Luật người đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp theo yêu cầu của nhân, quan, tổ chức (sau đây gọi chung khách hàng)

Luật người bào chữa chuyên nghiệp, hoạt động hành nghề trong tổ chức hành nghề hoặc độc lập trong đoàn luật . Luật tham gia tố tụng với cách người bào chữa kể từ khi được quan THTT vào sổ đăng bào chữa thông báo về việc đăng bào chữa tới người bào chữa. Hoạt động nghề nghiệp của luật nhằm góp phần bảo vệ công , phát triển kinh tế xây dựng hội công bằng, dân chủ, văn minh thông qua dịch vụ pháp luật cung cấp bao gồm tham gia tố tụng, vấn pháp luật ... . Trong những năm qua, sự tham gia của Luật trong các vụ án hình sự đã tăng đáng kể, khẳng định vai trò quan trọng của luật bào chữa trong việc bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội; góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp cho hội đồng xét xử những phán quyết chính xác, bảo đảm được sự nghiêm minh, công bằng, bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp của các tổ chức, nhân

Trong hoạt động pháp, nếu không sự tham gia của luật thì sẽ khó xây dựng được một nền pháp dân chủ, minh bạch, công khai bình đẳng giữa các bên trong quá trình tố tụng. Đặc biệt, trong trường hợp việc xét xử xảy ra oan sai thì công sẽ bị tổn thương khó thể bù đắp được. Do đó hoạt động của luật trong TTHS không những bảo vệ được quyền bào chữa còn đóng góp lớn vào phần bảo vệ công , điều quan trọng tạo được niềm tin của người dân vào công , công bằng, lẽ phải củng cố niềm tin vào chế độ hội

2. Trợ giúp viên pháp lý: 

Trợ giúp viên pháp (TGVPL) viên chức nhà nước, làm việc tại trung tâm trợ giúp pháp (TGPL) của nhà nước, được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ TGVPL theo đề nghị của giám đốc sở pháp, tham gia tố tụng với cách người bào chữa cho người được trợ giúp pháp

Công tác TGPL cho người nghèo đối tượng chính sách sẽ góp phần bảo đảm cho sự công bằng trong nhận thức bình đẳng trong sử dụng pháp luật cho người thụ hưởng khi tham gia tố tụng hình sự. Thông qua hoạt động trợ giúp pháp của trợ giúp viên pháp bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công bình đẳng trước pháp luật. Thuật ngữ Trợ giúp viên pháp được chính thức ghi nhận tại điều 19 Luật trợ giúp pháp năm 2017 quy định tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp trước tiên công dân Việt Nam, thứ hai viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây thể trở thành trợ giúp viên pháp như: (1) phẩm chất đạo đức tốt, (2) có trình độ cử nhân luật trở lên, (3) đã được đào tạo nghề luật hoặc được miễn đào tạo nghề luật hoặc đã qua thời gian tập sự hành nghề luật hoặc tập sự trợ giúp pháp , (4) sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp (5) không đang trong thời gian bị xử kỷ luật

Nhìn chung, hoạt động bào chữa cho người bị can, bị cáo trong TTHS của TGVPL đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt giữ, bị can, bị cáo người thuộc diện trợ giúp pháp . Về kết quả thực hiện chính sách trợ giúp pháp cho người nghèo theo pháp luật về trợ giúp pháp từ năm 2015 tháng 6/2020 trên địa bàn cả nước . Các Trung tâm trợ giúp pháp nhà nước đã thực hiện được 413.143 vụ việc trợ giúp pháp với 336.761 vụ việc vấn pháp luật, 64.741 vụ việc tham gia tố tụng, 1.786 vụ việc đại diện ngoài tố tụng 9.855 vụ việc khác cho 413.143 đối tượng được trợ giúp pháp , trong đó 93.582 người nghèo, 104.160 người dân tộc thiểu số, 50.891 người công với cách mạng,...Dẫn báo cáo đánh giá công tác trợ giúp pháp của Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội tại Hội nghị kết 5 năm thực hiện Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp giai đoạn 20152020 để minh họa cho những kết quả đạt được của TGVPL sau khi Luật Trợ giúp pháp năm 2017 được ban hành, Nội thêm sở, nguồn lực đẩy mạnh công tác trợ giúp pháp . Nếu số lượng vụ việc tham gia tố tụng năm 2018 567 vụ, thì năm 2019 612 vụ 6 tháng đầu năm 2020 466 vụ. Tỷ lệ trợ giúp viên pháp hoàn thành chỉ tiêu tham gia vụ việc tố tụng tăng từ 50% lên 94,9% qua các năm. Thành phố Nội cũng thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp theo hướng chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tranh tụng. Nhờ đó, trợ giúp viên pháp thực hiện trợ giúp pháp tăng cả về số lượng, chất lượng đa dạng hóa về tội danh. Đánh giá đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp trên địa bàn Nội bản bảo đảm quyền được trợ giúp pháp của người dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa

3. Bào chữa viên nhân dân: 

Bào chữa viên nhân dân (BCVND) người được ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong trường hợp theo quy định của pháp luật

Pháp luật TTHS nước ta quy định hình thức để tổ chức hội công dân tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự. Một trong những hình thức thể hiện sự tham gia của tổ chức hội công dân sự tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự của bào chữa viên nhân dân (BCVND). Chức danh BCVND nước ta ra đời trên sở Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 của Chủ tịch nước. Tuy nhiên, từ năm 1989 đến nay, khi các đoàn luật được khôi phục lại thì hoạt động BCVND hầu như chấm dứt, chức danh BCVND chỉ tồn tại trên phương diện pháp

Cách đây hơn 60 năm, tại Thông số 101/HCTP ngày 2981957, Bộ trưởng bộ pháp gửi Ủy ban hành chính, các Tòa án nhân dân khu, thành phố tỉnh thực hiện quy định BCVND. Kế thừa quy định này tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLHS năm 1988, điểm c khoản 1 Điều 57 BLHS năm 2003 điểm c khoản 2 Điều 72 BLHS năm 2015 đều quy định về chức danh BCVND. Về điều kiện của Bào chữa viên được quy định tại khoản 3 Điều 12 BLTTHS năm 2015

Bào chữa viên nhân dân công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức pháp , đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình

Căn cứ để BCVND tham gia tố tụng với cách người bào chữa. Điểm c, khoản 2 điều 76, quy định: y ban mặt trận tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội thành viên của tổ chức mình, theo quy định tại khoản 3, Điều 57 BLTTHS năm 2003 thì Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thành viên của tổ chức mình. quy định tại khoản 4 điều 75 BLTTHS năm 2015, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận quyền trách nhiệm tự cử Bào chữa viên nhân dân tham gia TTHS để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thành viên của tổ chức mình

Bào chữa viên nhân dân một chủ thể pháp cách của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam chế định BCVND hầu như không văn bản pháp quy nào quy định về thành lập, tổ chức, quản , phát triển đội ngũ này việc xem xét thủ tục chứng nhận cách người bào chữa, các nguyên tắc, phạm vi hành nghề lại chưa được hướng dẫn quy định chi tiết, dẫn đến các quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo thực hiện các quyền nghĩa vụ của bào chữa viên nhân dân . thế, theo quan điểm của chúng tôi, chế định bào chữa viên nhân dân đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nên chẳng cần xem xét lại nên bỏ chế định bào chữa viên nhân dân người bào chữa trong BLTTHS sửa đổi, bổ sung sắp tới. Điều đó cũng phù hợp với xu thế phát triển khách quan của nghề luật chủ trương cải cách pháp Việt Nam hiện nay

4. Người đại diện của người bị buộc tội: 

Người đại diện của người bị buộc tội nhân cũng có thể tham gia tố tụng với cách là người bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội người nhược điểm về thể chất không thể tự bào chữa, người nhược điểm về tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi. Người đại diện của người bị buộc tội thể cha, mẹ, người giám hộ của họ. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho pháp nhân

Người đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 tại điều 136 đại diện theo pháp luật của nhân (1) cha, mẹ đối với con chưa thành niên; (2) người giám hộ đối với người được giám hộ; của pháp nhân tại khoản điều 137 Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; b) Người thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Người đại diện của người bị buộc tội đã được pháp luật tố tụng hình sự nước ta ghi nhận cách tham gia người bào chữa từ rất sớm kể từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất BLTTHS năm 1988. Theo quy định tại điều 35 của Bộ luật này thì người bào chữa thể (b) người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo. Nếu so với lần pháp điển hóa năm 1988 của BLTTHS thì BLTTHS năm 2003 tiếp tục ghi nhận mở rộng thêm người được hưởng lợi khi người đại diện người bị tạm giữ. Điểm b, khoản 1 Điều 56 quy định người bào chữa thể Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáotrong chương XXXII thủ tục tố tụng của người chưa thành niên quy định tại khoản 1 Điều 305 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo người chưa thành niên thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong các hoạt động tố tụng của quan THTT đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 thì phải tuân theo khoản 3, điều 303 BLTTHS năm 2003 quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam

Thông liên tịch số 06/2016/TTLTVKSNDTCTANDTCBCABTP BLĐTB&XH của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ pháp, Bộ Lao động Thương binh hội ban hành ngày 21/12/2018, hiệu lực từ ngày 05/02/2019, về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Quy định tại Điều 3 của thông liên tịch này về người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi. Người đại diện của người tham gia tố tụng người dưới 18 tuổi người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135, 136 137 Bộ luật dân sự năm 2015 Cha, Mẹ; Người giám hộ; Người do Tòa án chỉ định hoặc hoặc người được Ủy ban nhân dân cấp nơi người dưới 18 tuổi trú cử

Người bào chữa người đại diện của người bị buộc tội được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận trong BLTTHS thể hiện sự bảo đảm quyền bào chữa, quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế người đại diện của người bị buộc tội khi tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người họ đại diện còn rất nhiều hạn chế (1) chưa thực hiện hết các quyền của người bào chữa được pháp luật quy định thậm chí có người đại diện có kiến thức pháp luật hạn chế do điều kiện địa , trình độ văn hóa, vv...; (2) không biết hoặc không thực hiện quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong hoạt động bào chữa chủ yếu dựa vào chứng cứ quan điều tra thu thập; (3) không thực hiện quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án dẫn đến chất lượng bào chữa chưa cao

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo