Xác lập quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa

Việc xác định cơ sở xác lập quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi tại sao lại quy định quyền thu thập, đưa ra chứng cứ cho người bào chữa.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Việc xác định cơ sở xác lập quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa sẽ giúp trả lời câu hỏi tại sao lại quy định quyền thu thập, đưa ra chứng cứ cho người bào chữa.

1. Xuất phát từ việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự: 

Quyền con người trong TTHS quyền của người bị cáo buộc phạm tội, người bị buộc tội, họ được xếp vào nhóm người yếu thế do đặc thù về địa vị pháp đối tượng nguy dễ bị tổn thương nhất khi tham gia các quan hệ tố tụng hình sự. Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng không những của NBC còn cả các quan thẩm quyền THTT, người THTT quan, tổ chức khác. do chính một bên quan thẩm quyền THTT sử dụng quyền lực hay sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, còn một lên người bị buộc tội đang bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã tạo nên sự bất bình đẳng cho các bên khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dẫn đến quyền con người trong tố tụng hình sự lại quyền dễ bị xâm phạm hậu quả để lại cũng nghiêm trọng đặc biệt khi động chạm đến quyền sống, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, nhân đạo, quyền không bị bắt giam giữ tùy tiện.... Do đó, Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định quan trọng trong việc tôn trọng, bảo vệ bảo đảm các quyền con người. Trong đó quyền được tiếp cận sớm với NBC như một phần của biện pháp bảo vệ người yếu thế chống lại những sự buộc tội duy trì quyền được xét xử công bằng. Ví dụ như quyền của người bị buộc tội được quy định tại Khoản 4 điều 31Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử quyền tự bào chữa, nhờ luật hoặc người khác bào chữa. một điều khác biệt của quyền bào chữa của người bị buộc tội đó (1) người bị buộc tội từ bỏ quyền nhờ người khác bào chữa thì không kéo theo từ bỏ quyền bào chữa, (2) khi người bị buộc tội nhờ người khác bào chữa thì quyền tự bào chữa của họ với quyền bào chữa của NBC luôn bổ sung cho nhau chứ không làm mất đi quyền tự bào chữa của người bị buộc tội

2. Xuất phát từ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm: 

sở nền tảng của nguyên tắc này lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận trong một văn bản pháp giá trị cao nhất của nhà nước đó Hiến pháp. Tại khoản 5, Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Đây là định hướng chỉ đạo cho việc tiếp tục quy định nguyên tắc tranh tụng trong các văn bản quy phạm pháp luật. BLTTHS năm 2015 thể chế hóa nguyên tắc hiến định như một Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình tố tụng

Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa người tham gia tố tụng khác đều quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của vụ án (điều 26)

Quy định đã khẳng quá trình tranh tụng không chỉ dành riêng cho giai đoạn xét xử tranh tụng còn diễn ra trong suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn khởi tố đến khi bản án hiệu lực pháp luật. Thật vậy, quy định mới này căn cứ pháp quan trọng để bảo đảm quyền con người, quyền bình đẳng của các bên tranh tụng. Nói đến tranh tụng trong PLTTHS thể hiểu ngay đó việc một bên buộc tội đưa ra quan điểm của mình bên kia sẽ bên gỡ tội tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của bên buộc tội ngược lại, nguyên tắc tranh tụng những tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể trong quá trình tranh luận bình đẳng chỉ dựa trên chứng cứ. bình đẳng hay không? Khi quyền thu thập chứng cứ bị thiên lệch? Đó căn cứ bản để quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa được ban hành, tạo ra hành lang pháp cho người bào chữa, bên gỡ tội thực hiện chức năng của mình một cách ngang bằng với bên buộc tội

Tiếp đến, tranh tụng được coi một khâu đột phá trong hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng sẽ nâng cao chất lượng xét xử, chống oan sai, chống mọi hành vi tiêu cực bảo vệ quyền con người bản của người bị buộc tội. Chính vậy, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm quy định cụ thể: Tòa án trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vcủa mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án(điều 26). Tòa án với vai trò trung tâm trách nhiệm tạo mọi điều kiện để các bên buộc tội gỡ tội thực hiện đầy đủ tất cả các quyền của mình, mọi chứng cứ xác định tội, chứng cứ xác định tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử vật chứng những tình tiết khác ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm tại phiên tòa

– Điểm cuối của tranh tụng được đánh giá bởi Tòa án thông qua việc ghi nhận trong Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Việc tranh tụng sẽ chỉ hình thức nếu kết quả tranh tụng không được thể hiện trong bản án

3. Xuất phát từ quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu: 

Đó một trong những quyền cốt lõi tuyệt đối được đảm bảo bởi công ước quốc tế pháp luật quốc gia luôn coi đó những vấn đề quan trọng hàng đầu như đối với sự công bằng trong quá trình tố tụng

Một phiên tòa công bằng phải bao gồm hội bình đẳng với cả bên truy tố bị cáo. Đầu tiên, sự công bằng trong cách tiếp cận, thu thập chứng cứ. Bên buộc tội bên gỡ tội phải được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, hội xem xét, bình luận, đánh giá các chứng cứ đã được các bên giao nộp. Thứ hai, sự công bằng liên quan đến việc tranh tụng tại phiên tòa đó Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định một bản. Thứ ba, các bên phải bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu của mình nhằm làm sự thật khách quan của vụ án

Để xác định xem toàn bộ quá trình tố tụng công bằng hay không cũng cần phải xem xét quyền của NBC được tôn trọng hay không? Cần xem xét đến hội tiếp cận các chứng cứ buộc tội đối với người bị buộc tội của người bị buộc tội người bào chữa đang bào chữa. Trong đó, NBC phải được tiếp cận sớm các chứng cứ buộc tội người họ đang bào chữa để thể phát hiện sớm những chứng cứ buộc tội không được thu thập theo đúng trình tự của pháp luật tố tụng hình sự. Mối quan tâm này không phải không có căn cứ khi nhìn vào dụ sau: các trường hợp liên quan đến sử dụng chứng cứ thu thập được bởi giám sát mật bất hợp pháp các hoạt động đột nhập, thu giữ chứng cứ buộc tội

Quyền được ngang bằng trong hoạt động thu thập chứng cứ. Theo quy định của BLTTHS năm 2015 tại Điều 26 về nguyên tắc thực hiện quyền bình đẳng

Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa người tham gia tố tụng khác đều quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của vụ. Để NBC quyền bình đẳng với ĐTV, KSV, người khác thẩm quyền THTT thì người bảo chữa phải quyền ngang bằng với những người này về thu thập chứng cứ. Hiện nay, quyền thu thập chứng cứ NBC (một bên chức năng gỡ tội trong quá trình tranh tụng) còn rất nhiều hạn chế chưa thể hiện sự bình đẳng so với bên buộc tội. Thực tế cho thấy, hồ vụ án hình sự được xây dựng phần lớn dựa trên lời khai của bị can chủ yếu theo hướng buộc tộingười bào chữa lại sử dụng hồ này để bào chữa cho người bị buộc tội thì phần nào sẽ hạn chế rất nhiều thậm chí các chứng cứ gỡ tội dường như không . Để thực hiện tốt hơn việc bào chữa cho người bị buộc tội thì đòi hỏi quyền thu thập chứng cứ của NBC phải ngang bằng với bên buộc tội đòi hỏi chính đáng, cấp thiết sở. Ngoài ra, những chứng cứ được NBC đưa ra phải được Tòa án xem xét, đánh giá khách quan, công bằng không thiên vị

4. Xuất phát từ quyền được xét xử công bằng: 

Quyền được xét xử công bằng được thừa nhận như quyền bản của người bị buộc tội, quyền này được bảo đảm bởi một Tòa án xét xử độc lập, khách quan được thành lập theo luật pháp. Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights) quy định tại Điều 10: Ai cũng quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một Tòa án độc lập vô xét xử một cách công khai công bằng để phán xử về những quyền lợi nghĩa vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mình bị cáo buộc=. Văn kiện quốc tế thứ hai đề cập đến quyền được xét xử công bằng đó Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights) quy định tại Khoản 1 Điều 14: Mọi người đều bình đẳng trước các Tòa án quan tài phán. Mọi người đều quyền được xét xử công bằng công khai bởi một Tòa án thẩm quyền, độc lập, không thiên vị được lập ra trên sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự...

– Quyền bình đẳng trước Tòa án 

+ Trước hết, bình đẳng thể hiện sự ngang bằng về quyền giữa các bên trong tố tụng hình sự. Theo đó, các bên buộc tội với bên gỡ tội quyền như nhau trong việc đưa ra chứng cứ, quan điểm, yêu cầu những đòi hỏi đầu tiên của công bằng trong xét xử

+ Thứ hai, bình đẳng thể hiện trước pháp luật được pháp luật bảo vệ trong tố tụng hình sự. Mọi người đều quyền được hưởng một cách đầy đủ hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu trong xét xử của quá trình TTHS. Đây cũng yêu cầu được quy định tại Điều 7 của Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị..., Hiến pháp năm 2013 đã quy định tại Khoản 1 Điều 16:* Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, từ quy định này đã được thể chế hóa thành nguyên tắc bản trong Bộ luật TTHS năm 2015 được quy định tại Điều 9 về bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật: Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần địa vị hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử theo pháp luật điều 12 luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định việc bảo đảm trước Tòa án: Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần hội, địa vị hội; nhân, quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòa án” 

– Quyền được xét xử bởi Tòa án độc lập, không thiên vị 

Người bị buộc tội quyền được xét xử bởi Tòa án độc lập, không thiên vị bất kỳ cá nhân, tổ chức nào việc xét xử phải công khai. Bên cạnh sự độc lập của Tòa án thì sự độc lập của Thẩm phán những người trong Hội đồng xét xử cũng ảnh hưởng đáng kể đến tính độc lập của Tòa án. Chính lẽ đó BLTTHS năm 2015 quy định tại Điều 23 trong quá trình xét xử vụ án vụ án hình sự Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm quan, tổ chức, nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. quan, tổ chức, nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị xử kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật

– Quyền được xét xử kịp thời, công khai và minh bạch 

Quyền được ra tòa hay quyền được tiếp cận Tòa án? theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta đó quyền được xét xử kịp thời, công khai minh bạch những đòi hỏi thiết yếu của công bằng nguyên tắc bản trong luật tố tụng hình sự nước ta. Bằng quy định Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng tại Điều 25 của BLTTHS năm 2015

Tòa án xét xử công khai, mọi người đều quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ mật đời theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo