Quy định phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự Canada

Phòng vệ chính đáng được hiểu chung là việc một người dùng vũ lực nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác, bảo vệ tài sản hoặc một lợi ích khác trước một sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

phương Tây, bao gồm các quốc gia Châu Âu Bắc Mỹ, hai thệ thống pháp lut chính hệ thống pháp luật Dân luật (Luật La Mã) Thông luật (Luật án lệ). Trong đó chủ yếu các quốc gia đều sử dụng Dân luật, một sít quốc gia sử dụng Thông luật, điển hình gồm Canada, Hoa Kỳ Vương Quốc Anh. Do đó, nếu so sánh với pháp luật theo hệ thống pháp luật của Cu Âu lục địa, pháp luật Canada nói chung pháp luật hình sự Canada nói riêng nhiều điểm khác biệt. Đối với chế định phòng vệ chính đáng cũng vậy, cách tiếp cận cũng như việc áp dụng thực tế về phòng vệ chính đáng trong pháp luật Canada nhiều điểm giống nhưng cũng nhiều điểm rất khác đáng để học hỏi khi so nh với pháp luật Việt Nam (cũng áp dụng hệ thống pháp luật Dân luật)

Phòng vệ chính đáng trên thế giới đều được hiểu chung việc một người dùng lực nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác, bảo vệ tài sản hoặc một lợi ích khác trước một sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại. Hành vi dùng lực trong trường hợp phòng vệ chính đáng không bị coi tội phạm hoặc được loại trừ trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu như vậy, luật hình sự từ trước đến nay quy định hai trường hợp phòng vệ chính đáng, bao gồm phòng vệ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe phòng vệ để bảo vệ tài sản (defence of person and defence of property)

Mặc vậy, nghiên cứu pháp luật hình sự Canada đã cho thấy một sự khác biệt đáng kể. Luật hình sự Canada cho rằng hành vi dùng lực để giúp người thi hành công vụ cũng được xem phòng vệ chính đáng. Do đó, phòng vệ chính đáng theo pháp luật Canada sẽ ba hành vi, đó : (1) phòng vệ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe; (2) phòng vđbảo vệ i sản; và (3) phòng vệ trong khi giúp người thi hành công v

Hành vi phòng vệ chính đáng Canada cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều phải một nh vi chống trả một cách hợp với hành vi vi phm pháp luật của người khác. Pháp luật Canada đưa ra một hệ thống tiêu chuẩnđể kiểm tra tính hợp của hành vi chống trả. Để tính hợp được thể hiện đầy đtrong hành vi phòng vệ chính đáng, cần phải chứng minh được khi đó người phòng vệ đang rơi vào tình trạng nguy hiểm hoặc sự nguy hiểm đang đe dọa diễn ra ngay tức khắc. Thậm chí, người phòng vệ đã cố gắng tìm hết cách để rút lui(retreat) trước khi chống trả lại hành vi phạm tội, người phòng vệ còn phải thuyết phục tòa án hai vấn đề (mang tính chủ quan): (1) bị cáo sở hợp tin rằng trong tình huống đó, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe sẽ diễn ra tức khắc; (2) sự chống trả đối với nguồn nguy hiểm đó hợp , không phải hành vi vượt quá. Việc chứng minh như vậy thật sự không dễ, bởi việc xác định của người phòng vệ một chuyện, việc chứng minh được điều đó để thuyết phục thm phán lại càng khó hơn, mỗi người lại nhận thức khác nhau về cùng một hành vi, thậm chí các thẩm phán cũng những quan điểm khác nhau. Do đó, cần thiết phải một chuẩn mực chung quy định về tính hợp của hành vi phòng vệ. Các nhà khoa học luật hình sự Canada đã xây dựng một khái niệm gọi người hợp (reasonable man) để đáp ứng nhu cầu này. Người hợp lýngười khi thực hiện hành vi chống trả trong những trường hợp cụ thể được cho hợp , bất cứ ai trong trường hợp đó thực hiện hành 

vi chống trả ng đều được coi hợp ngược lại

Tiêu chuẩn kiểm tra tính hợp đối với phòng vệ chính đáng theo luật hình sự Canada dựa trên 4 sở, cụ thể như sau

Việc sử dụng lực để chống trả có thực scần thiết không

Để xác định sở này, Ted Truscott cho rằng chúng ta thể trả lời một số câu hỏi phụ: Anh đã cố gắng xin lỗi khi còn thời gian? Anh đã cố gắng bỏ chạy khi thể? Anh đã làm mọi cách để tránh xảy ra dùng lực

Vũ lực được dùng hợp nhằm ngăn chặn nguồn tấn công

Anh có thể dùng vũ lực một ch ngang bằng với hành vi tấn ng hoặc cao hơn một chút nhưng không bị xem quá đáng. Chẳng hạn, khi anh bị đấm, khi đó 

anh tin rằng, việc chìa khí ra để kẻ tấn công sợ, thì anh thể làm, anh cũng thể bắt đầu chống trả miễn sao nhằm ngăn chn sự tấn công đó

Thương ch gây ra cho kẻ tấn công thích đáng (appropriate) để ngăn chặn stấn công

Anh có cố ý trả thù kẻ tấn công khi hành vi tấn công đã chấm dứt

Hành vi dùng lực sau khi hành vi tấn công đã chm dứt không được xem là nh vi phòng vệ

Chế định phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Canada đã được sửa đổi, bổ sung vào lần sửa đổi ngày 11/03/2013, đã rút gọn nhiều nội dung so với các quy định . Canada theo hình thức hệ thống pháp luật án lệ, hệ thống pháp luật phụ thuộc nhiều vào các án lệ chứ không phụ thuộc nhiều vào các văn bản quy phạm pháp luật, do đó Luật hình sự của Canada sửa đổi rất nhiều lần, mỗi lần lại sửa đổi một phần nhỏ. Đến lần sửa đổi ngày 11/03/2013, chế định phòng vệ chính đáng được sửa đổi, thay thế cho những quy định của lần sửa đổi ngày 01/01/2003. Những quy định mới những thay đổi mang tính chất rút gọn, khiến những quy định về phòng vệ chính đáng không còn dài dòng, trùng lặp. Tuy nhiên, những án lệ đã được công bố áp dụng đối với cả những quy định quy định mới, do đó, trong phần phân tích này tác giả sẽ sử dụng cả các quy định từ lần sửa đổi năm 2003 lần sửa đổi năm 2013 của BLHS Canada, sau đây gọi tắt BLHS Canada năm 2003 BLHS Canada m 2013

Các trường hợp phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Canada được quy định tại Tiết 27, Tiết 34 đến Tiết 42 BLHS Canada năm 2003, sau này Tiết 25, Tiết 34, 35 BLHS Canada năm 2013, bao gồm đầy đủ các trường hợp Phòng vđể bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác; Phòng vệ để bảo vệ tài sản và Giúp đỡ người thi hành công v[34], [69]. Các dụ dưới đây đều được lấy trong các Án lệ được áp dụng rộng rãi tại Canada

1. Phòng vệ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác (defence of self and others): 

Xem xét vấn đề này trên sở các quy định án lệ của BLHS Canada năm 2003, thể xác định c nội dung chính và một số vấn đề phát sinh như sau

1.1. Phòng vệ để bảo vtính mạng, sức khỏe của mình

a. Phòng vệ đối với hành vi tấn công cớ 

Tiết 34 BLHS Canada 2003 quy định phòng vệ trong trường hợp chống trả một hành vi tấn công cớ (unprovoked assault). Tiết này quy định cụ thể như sau

(1) Người nào bị tấn công trái pháp luật một cách cớ thì quyền dùng lực để đẩy lùi sự tấn công đó nếu việc dùng lực không cố ý gây ra cái chết hoặc gây thương tích nặng cho kẻ tấn công hành vi dùng vũ lực cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình. (2)Người nào bị tấn công một cách trái pháp luật đã gây ra cái chết hoặc gây thương tích nặng trong việc đẩy lùi hành vi tấn công sẽ được xem hợp pháp nếu: (a)anh ta thực hiện hành vi đó với ý thức rằng hành vi tấn công sẽ giết chết hoặc gây thương tích nặng cho anh ta nếu không được ngăn chặn; (b)anh ta đủ cơ sở tin rằng không thể còn cách nào khác ngoài hành vi đó nhằm bảo vệ mình khỏi bị giết hoặc bị y thương tích nặng

Một người thể sử dụng lực khi cớ bị tấn công trái pháp lut hành vị lực đó không quá mức cần thiết một cách ràng không ý gây ra cái chết hoặc bị thương nặng cho người tấn công

Tuy nhiên, điều luật cũng đã đưa ra trường hợp người tấn công bị chết do nh vi chống trả, nhưng hành vi chống trả được xem cần thiết hậu quả chết người không phải do anh ta cố ý thì vẫn được xem phòng vệ chính đáng

thể tìm thấy nội dung này khi a án xét xử trường hợp của Setrum (vụ án của R đối với Setrum, 1975). Tháng 01 năm 1975, tại Cronach, Sask, Canada, ông Larry Setrum đang uống rượu cùng mấy người bạn trong nhà của Harold White. Setrum cãi cọ với Wesley Petreman, nhưng White khuyên không nên đánh nhau trong nhà. Sau đó, Petreman rủ Setrum ra ngoài. Setrum theo ra không biết Petremạn muốn mình ra làm . Setrum kể rằng khi đó Petreman bắt đầu chửi đánh mình. Setrum chống trả, đánh Petreman bên cnh chiếc xe tải, sau đó Setrum bỏ đi. Petreman chết do nguyên nhân của cuộc đánh nhau ấy.

Setrum bị kết tội ngộ sát (manslaughter) đã đồng ý đánh nhau, hành vi lỗi của cả 2 bên nên đó một hành vi trái pháp luật, không được hưởng quy chế phòng vệ chính đáng. Sau đó, tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án tối cao đã ra quyết định: Khi không có shợp để cho rằng bị cảo cố ý giết hoặc gây thương tích nặng cho người tấn công thì không áp dụng đoạn 2 áp dụng đoạn 1 Tiết 34, nếu lực được dùng không vượt quá giới hạn cho phép ngay cả khi người tấn công chết do hành vi chống trcủa bo. Quyết định này của Tòa án tối cao đã ủng hộ quan điểm cho rằng, nếu người phòng vệ y ra cái chết cho người tấn công, đoạn 1 Tiết 34 vẫn thđược áp dng, kể cả trong trường hợp hành vi tấn công không nguy hiểm chết người hoặc thể gây ra thương tích nặng, nhưng sự chống trả đó không cố ý dẫn đến cái chết hoặc gây thương tích nặng cho người tấn công. Tuy nhiên, nếu cách thức hay phương tiện, công cụ người chống trả dùng ràng nhằm giết hoặc gây thương tích nặng cho kẻ tấn công thì chỉ thể áp dụng đoạn 2 Tiết 34

Ngoài ra, đoạn 2 Tiết 34 quy định trường hợp phòng vệ chính đáng gây ra cái chết hoặc thương tích nặng cho người tấn công. Để được xem phòng vệ chính đáng trong trường hợp này, người phòng vệ phải chứng minh được sự tấn công đó khả năng giết chết hoặc ít nhất cũng gây thương tích nặng cho mình. Đồng thời, anh ta còn phải chứng minh được rằng trong trường hợp đó, việc gây ra cái chết hoặc gây thương tích nặng cho kẻ tấn công lựa chọn duy nhất, để bảo vệ mình khỏi chết hoặc khỏi bị thương tích nặng

Tiết 34 thể coi điều luật quan trọng nhất trong phòng vệ chính đáng đối với hành vi tấn công của người khác. Tuy nhiên, thể thấy vẫn còn một số vấn đề phát sinh như sau

Bị cáo nghĩa vụ rút lui(retreat) trước khi dùng lực đchống lại hay không

Tiết 34 không nhắc tới nghĩa vụ rút lui của người phòng vệ trước hành vi tấn công. thể lấy vụ án của Deegan (vụ án của R đối với Deegan) để minh họa

Tại Alberta, người đàn ông tên Deegan cãi cọ với một người một căn hộ khác trong cùng chung . Deegan bị đánh trước nhưng anh không chống trả về nhà khóa cửa lại. Kẻ tấn công quyết không tha, chạy theo tìm Deegan, suýt phá sập cửa nhà Deegan với sự giúp sức của bạn hắn. Deegan mở cửa trận chiến| bắt đầu. Deegan bị đá hai cái vào đầu. Để tự vệ, Deegan dùng dao đâm kẻ tấn công chết gây bị thương bạn của kẻ tấn công. Deegan khai rằng anh đã cảnh cáo kẻ tấn công hãy buông tha mình khi đó anh nghĩ mình sắp bị giết. Sau vụ án này, Tòa án tối cao quy định: bị cáo không cần rút luitrước khi sử dụng lc, đặc biệt khi người bị tấn công đang nhà của mình

cần thiết phải định lượng một cách chính xác lực được sử dụng khi chống trả

Tiết 34 không ghi nhận nghĩa vụ phải đo lường một cách chính xác mức độ vũ lực cần thiết được sử dụng để phòng vệ, miễn sao hành vi phòng vệ bằng lực được đánh giá hợp . Để hướng dẫn cụ thể cho tình huống này, Tòa án tối cao đã kết luận trong vụ án của Ogal (vụ án của R đối với Ogal)

Tại một nông trại gần Warspite, Alberta, cuộc đụng độdiễn ra giữa ông Mahowich ông Alex Ogal. Khi thấy cha mình bị tấn công bằng búa bởi Mahowich, con trai của Ogal đã tìm một khúc gỗ nhằm bảo vệ cha mình bảo vệ chính mình. Anh ta đánh o chân, tay đầu Mahowich gây nứt hộp s. Anh ta bị kết án về tội hành hung người khác với mức phạt từ 200 đô la đến 6 tháng . Tòa án tối cao Alberta đã xét xử phúc thẩm vụ án của Ogal. Trong nhận định của mình, thẩm phán Hyndman u : nhiên không thể buộc John Ogal (con trai của Ogal) đo lường một cách chính xác mức độ lực mà anh ta dùng để bảo vệ cha mình cũng như bo vệ mình trong tình huống này. Tòa phúc thẩm đã hủy bản án thẩm miễn tội cho John Ogal. Trong vụ án này, hành vi gây nứt hộp sọ không bị xem là không tương xứng

Bcáo thể chống trkhông cần kiềm chế skích động

Sự kích động đây nghĩa trạng thái tinh thần bị kích động rất mạnh dẫn đến khả năng mất kiềm chế thực hiện hành vi chống trả. Tiết 34 không quy định cụ thể về vấn đề này, nhưng xem xét trên các bản án đã xét xử Canada, thể thấy người phòng vệ được phép sử dụng lực thậm chí trước khi kẻ tấn công ra tay. Hầu hết các quốc gia đều cho phép chống trả với hành vi tấn công sẽ diễn ra ngay tức khắc, Canada cũng vậy, luật vẫn yêu cầu về tính diễn ra ngay tức khắc của hành vi tấn công. Tuy nhiên Canada còn ghi nhận trường hợp kẻ tấn công chưa thực hiện hành vi tấn công hoặc sẽ tấn công ngay tức khắc nhưng những biểu hiện tất yếu hành vi tấn công sẽ xảy ra ngay tức khắc. Trong trường hợp này, bị cáo không cần phải chờ đợi kẻ tấn công ra tay trước thể phòng vệ trước, nếu để họ ra tay trước thì đôi khi sẽ không thphòng vệ được nữa

Tòa phúc thẩm Ontario ủng hộ nội dung giải thích này trong vụ án của Antley (vụ án của R đối với Antley, 1964). Tháng 12 năm 1963, một người đàn ông tên Gall xông vào nhà ông Antley vì Antley thiếu nợ Gall một stiền. Bạn của Antley Walter thấy Gall đe dọa đánh Antley đòi nợ trong trạng thái say rượu nên Walter yêu cầu Gall rời khỏi nhà của Antley. Tuy nhiên, khi Antley vào nhà đóng cửa lại, Gall đuổi theo bảo rằng sẽ đánh chết Antley. Trong tình thế đó, Antley đã chụp một khúc gỗ làm hàng rào làm khí phòng vệ, trong lúc xát, Antley đánh Gall một cái vào đầu, vài cái vào chân làm bể mắt cá chân của Gall ba chỗ. Theo báo cáo tại phiên xét xử thẩm, thẩm phán Kirkpatrick nhận xét: Không chứng cứ chứng tỏ Antley đã kiềm chế trước khi chống trả Gall tại sao Antley không gọi sự giúp đỡ của Walter để tránh xảy ra bạo lực. vậy, Kirkpatrick đã kết án Antley tội gây thương tích cho người khác (assault causing bodily harm)

Tuy nhiên, các thẩm phán tòa phúc thẩm Ontario đã nêu ra một số điểm để khẳng định nh vi chống trả của Antley là hợp

Gall trước hết kẻ xâm phạm gia bất hợp pháp (trespasser) phạm tội tấn công Antley khi đưa nắm đấm về phía Antley

Gall người to hơn, khỏe mạnh hơn Antley, cũng người sức chiến đấu cao hơn

Nhận xét báo cáo của Kirkpatrick, thẩm phán Roach viết

Một người bị dồn vào đường cùng bởi một người khác không cần phải kiềm chế sự điên cuồng(ám chỉ khi tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến trạng thái gần mất khả năng kiềm chế) trong việc chống trả lại hành vi tấn công. Khi đó, phòng vệ chính đáng vn thể được áp dụng. Không cn thiết anh ta phải đợi đến khi kẻ tấn công ra taytrước. Nếu anh ta buộc phải đợi, thể kng còn kịp nữa

Mặc thẩm phán McGillivray không đồng ý với nhận xét của Roạch cho rằng quyết định của Kirkpatrick đúng, nhưng quan điểm ca thẩm phán Roach được hai thẩm phán khác đồng ý nên quyết định cuối cùng miễn tội cho Antley

vậy, Canada, người phòng vệ quyền chống trkhông cần kiềm chế

Thậm chí, Tiết 34 vẫn thể được áp dụng trong trường hợp bị cáo đánh giá sai tính nguy hiểm đang đe dọa đối với mình (nhầm lẫn sự tấn công nhưng thực tế không có). Tuy nhiên, sự ý thức rằng mình đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng phải sở hợp tin rằng không còn cách nào khác để bảo vệ tính mạng ngoài việc phải gây thiệt hại cho kẻ tấn công. Sự sai lầm của bị cáo phải được xem hợp (theo tiêu chuẩn kiểm tra tính hợp ) thì mới được xem phòng vệ chính đáng. Vụ án của Bolyantu (vụ án của R đối với Bolyantu) [9, tr. 174] một dụ. Vụ án xảy ra từ chuyện cãi tại Detroit House Tavern, thuộc Windsor, Ont, Canada. Bolyantu bị đánh bởi một đám đông. Nhưng sau đó, Bolyantu tỉnh dậy bắt đầu gây sự lại với đám đông đã đánh anh ta, Bolyantu bỏ chạy, đám đông đuổi theo. Bolyantu đám đông chạy đến bên ngoài quán rượu, sau đó, Bolyantu đã đâm Martin Stimac một nhát dao nghĩ rằng anh ta thuộc đám đông kia, nhưng người này không nằm trong đám đông đã tấn công Bolyantu. Thẩm phán Zaley nhận xét: Stimac không phải trong nhóm người đuổi theo Bolyantu nên không thể áp dụng Tiết 34 về phòng vệ chính đáng. vậy, Bolyantu đã bị kết án tội gây thương tích cho người khác trong phiên tòa thẩm

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, các thẩm phán đã tìm ra một vài chi tiết hợp để thể tin rằng Stimac số người đuổi theo Bolyantu (mặc thực tế không phải vậy). Anh ta quyền tự vệ vì sở hợp đtin rằng Stimac người ca đám đông đuổi theo mặc thực tế không phải vậy. Nhận định y dẫn Bolyantu đến một quyết định mới để thể miễn tội cho anh. Như vậy, theo pháp luật Canada, một người quyền phòng vệ khi shp để tin rng sẽ hành vi tấn công xảy ra với mình.

b. Phòng vệ đối với hành vi tấn công do sự khiêu khíchcủa bản thân (provoked assault):

Ngoài trường hợp phòng vchính đáng đối với hành vi tấn công cớ, luật hình sự Canada xem cả những trường hợp bị cáo tự khiêu khícho người khác tấn công mình trước, rồi sau đó chống trả lại hành vi tấn công đó cũng được xem hành vi phòng vệ chính đáng. Tiết 35 BLHS Canada 2003 quy định như sau

Người nào không do gây thương tích cho người khác nhưng đã kng thực hiện việc gây thương tích với ý định gây ra chết người hoặc thương tích nghiêm trọng, hoặc cớ khiêu khích đdẫn đến việc người khác gây thương tích cho mình, thì thể biện minh cho việc sử dụng sức mạnh sau khi việc gây thương tích nếu: (a) người đó sdụng sức mạnh: (i) Trong sự e sợ hợp sẽ bị giết hoặc thương tích nghiêm trọng từ hành vi bạo lực của người mình gây ra thương tích hoặc khiêu khích; (ii) Với các căn cứ hợp tin điều đó cần thiết để bảo toàn nhân 

mình khỏi bị giết hoặc thương tích nghiêm trọng. (b)Người đó, tại bất thời điểm nào trước khi có sự cần thiết bảo tn nhân mình khỏi bị giết hoặc thương tích nghiêm trọng xuất hiện, đã không ý định làm chết người hoặc gây thương tích nghiêm trọng; (c) Người đó đã từ chối việc tiếp tc đối đầu từ bỏ hoặc rút lui khỏi việc đối đầu ngay khi thể làm việc này trước khi sự cần thiết phải bảo vệ cá nhân mình tránh khỏi bị giết hoặc thương tích nghiêm trọng

Nội dung của Tiết này thể được hiểu ngay cả khi một người nguyên nhân phát sinh xung đột đánh nhau, sau đó người bị khiêu khích cố ý giết hoặc gây thương tích nặng cho người kia, thì người đó thể được hưởng quy chế phòng vệ chính đáng nếu

Người đó không cố gắng giết hoặc làm bị thương nặng cho nạn nhân; và 

Người đó đã cố gắng không tiếp tục cuộc ẩu đả tìm cách tháo lui khi thể để tránh việc dùng lực chống trả

Ngược lại, nếu một người tấn công bạn bạn tấn công lại, đồng thời dọa anh ta rằng sẽ giết anh ta hoặc làm anh ta bị thương nặng anh ta sở hợp tin điều đó thực sự xảy ra, anh ta thể được phép giết bạn nếu anh ta đã cố bỏ chạy nhưng không được. Ngay cả khi lời đe dọa của bạn chỉ lời đe dọa, bạn không thực sự sẽ tấn công anh ta với mục đích như vậy, những lời nói hành vi của bạn lại khiến anh ta nhầm lẫn rằng đang gặp phải nguy hiểm thực sự cần chống trả để tự cứu mình. Hành vi chống trả của anh ta vẫn được xem phòng vệ chính đáng bất kể anh ta gây thiệt hại cho bạn thế nào, kể cả dùng hung khí giết bạn. Nội dung này được quy định tại vụ án của Merson (vụ án của R đối với Merson) [8, tr. 251]. Tại New Westminter, B,C., Dafoe từ giã bạn trai của mình Michael Merson để trở về cùng chồng mình Allen Dafoe. Vào lúc 5 giờ sáng, Merson vào nhà ông Dafoe bằng cửa sổ đi đến phòng ngủ để nói chuyện với tình địch lạ mặt của mình Allen Dafoe. Khi nhìn thấy ông Dafoe, Merson c súng ngắn trong túi ra, chĩa vào ông Dafoe bảo Dafoe để cho Dafoe đi. Chứng cứ tại phiên tòa cho thấy, hai người đàn ông cãi cọ với nhau một lúc. Merson chửi ông Dafoe, ông Dafoe vọt đi và Merson bỏ chy, cuộc chiếnbằng súng ngắn bắt đầu. Merson bị bắn một phát vào chân, khi đó Merson bắn ông Dafoe hai phát, một vào chân một vào ngực. Merson sau đó bỏ chạy còn ông Dafoe chết trúng đạn

Merson khai rằng khi đó anh chỉ đưa súng về phía ông Dafoe để hù dọa thôi chứ không ý giết hay làm bị thương Dafoe. Đồng thời, sau đó Merson đã cố gắng rút chạymột lần nhưng bị ông Dafoe tấn công bất ngờ nên không thoát được. Merson cảm thấy phải chng lại ông Dafoe để tránh bị bắn. Cuối cùng, Merson đã thuyết phục được Tòa miễn tội cho mình

Dường như trong vụ án này, nếu Merson chết Dafoe sống, Dafoe cũng thể được miễn tội. ràng theo luật hình sự Canada, người sống sót sau khi đánh nhau chẳng những được lợi về mạng sống sự hợp ng thể đứng về phía họ

Thẩm phán Taggart giải thích về câu tchối việc tiếp tục đối đầu từ bỏ hoặc rút lui khỏi việc đối đầu ngay khi thnhư sau: Taggart cho rằng cuộc đối đầusinh ra bởi sự khiêu khích của bị cáo. thế nếu thể, bị cáo nhiệm vụ phải rút luihoặc không ý định tiếp tục cuộc đối đầukhi đã và đang xảy ra. Thỏa mãn yêu cu đó thì Tiết 35 mới được áp dụng. Do vậy, rút luimột nghĩa vụ đặc trưng trong Tiết y không phải yêu cầu bắt buộc các Tiết khác.

b. Phòng vệ để bảo vệ người khá

Phòng vệ để bảo vệ người khác được quy định tại Tiết 37 của BLHS Canada. Tiết này quy định như sau

(1) Một người được biện minh khi sử dụng sức mạnh để bảo vệ mình hoặc bất kỳ người nào nằm trong sự bảo hộ của mình tnh không bị gây thương tích nếu người đó sự dụng sức mạnh mức không quá mức cần thiết nhằm phòng chống lại việc gây thương tích này hoặc việc lặp lại hành vi y. (2) Không quy định nào tại Điều này được coi biện minh cho việc cố ý gây thương tích hoặc tổn hại một cách cố ý mức độ vượt quá mức sau khi cân nhắc đến bản chất của việc gây thương tích sức mạnh được sử dụng để phòng chống

Nội dung của quy định y khá ràng. Giống quy định tại đoạn 2 Tiết 34, bị cáo thể được phép dùng lực để bảo vệ mình hoặc bảo vệ người bị cáo nghĩa vụ chăm sóc nếu bị cáo dùng lực không vượt quá mức cần thiết. Đoạn 2 Tiết 37 nghiêm cấm hành vi dùng lực vượt quá mức cần thiết. Tiết 37 không giải thích nội hàm của cụm từ người nào bị cáo có nghĩa vụ chăm sóc . Thiếu sót này đã chuyển nghĩa vụ xác định ai người bị cáo nghĩa vụ chăm sóc sang thẩm pn bồi thẩm đoàn. Việc xác định này chỉ thể dựa trên tình tiết của từng vụ án cụ thể. Bên cạnh đó, Tiết 37 cũng không nêu liệu bị cáo nghĩa vụ phải đợi đến khi người thứ ba (người bị tấn công) dùng lực trước rồi mới quyền phòng vệ để bảo vệ người thứ ba đó không. Pháp lut một số quốc gia chỉ cho phép bị cáo dùng lực sau khi người thứ ba đã chống trả nhưng không hiệu quả. 

Khi áp dụng Tiết 37 vào thực tế, đã phát sinh một số vấn đề, điển hình vấn đề về người phụ nữ trong gia đình tồn tại nạn bạo hành sử dụng lực để bảo vệ chính mình con cái họ. Trước năm 1990, không sự biệt trong trường hợp này, tức người phụ nữ vẫn sẽ được coi như một người bình thường. Nghĩa , để được xem xét phòng vệ chính đáng, họ phải chứng minh được stấn ng là thực tế hoặc sẽ diễn ra ngay tức khắc. Vụ án của Whynot (ván của R đối với Whynot) một trường hợp điển nh. Whynot gây thương tích cho chồng mình khi anh này chỉ mới hăm da sẽ giết sau khi uống rượu thật say. Mặc rất nhiều chứng cứ xác định trong quan hệ vợ chồng, Whynot thường xuyên bị ông chồng này đánh đập tàn nhẫn việc ra tay trước để tự vệ cn thiết, tòa án vẫn kết tội Whynot

Tuy nhiên, một án lệ xuất hiện năm 1990 đã thay đổi quan điểm này, mọi chuyện đã khác đi. Vào năm 1990, Tòa án tối cao của Canada xét xử vụ án một phụ nữ 22 tuổi tên Lavalee (vụ án của R đối với Lavalee) bắn sau gáy của người bạn trai mình bằng khẩu súng trường 303 khi anh này bỏ đi sau khi dọa sẽ giết ta. Nhiều bằng chứng chứng tỏ Lavalee đã bị ông bạn phu này hành hạ thậm t. Hành vi của Lavalee không được tòa án áp dụng chế định png vệ chính đáng không chứng minh được rằng mình đang thực tế gặp tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Lavalee kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bằng chứng về tâm thần liên quan đến vấn đề bạo hành được Tòa xem xét. Tòa nhận xét

Khi chứng cứ thể hiện bị cáo sống trong điều kiện nạn bạo hành thường xuyên xảy ra, các chuyên gia tâm thần thể những người giúp bồi thẩm đn xem xét liệu bị cáo hay không khi cho rằng mình đang trong tình trạng nguy hiểm chết người lúc dùng lực bằng cách giải sự nhạy cảm mạnh của người phụ nữ thường xuyên bị hành hạ bởi hành vi ca người đàn ông

Cuối cùng, Tòa án tối cao đã hủy án thẩm miễn trách nhiệm hình sự cho Lavalee hành vi giết người của yếu tố phòng vệ chính đáng

BLHS Canada năm 2013 đã thu gọn rất nhiều so với 4 Tiết của BLHS Canada năm 2003, rút gọn lại thành 1 Tiết duy nhất, Tiết 34

Phòng thủ sử dụng hoặc đe dọa lực 

 (1) Một người không phạm tội nếu o (a) họ tin rằng trên sở hợp hành vi lực đang được sử dụng để chống lại họ hoặc người khác hoặc một mối đe dọa lực đang được thực hiện đối với họ hoặc người khác; o (b) hành vi cấu thành tội phạm được thực hiện với mục đích tự vệ hoc bảo vệ bản thân hoặc người khác khỏi việc sdụng hoặc đe dọa vũ lực đó, o (c) hành động được thực hiện hợp trong hoàn cảnh. 

  • Ghi chú bên lề: Các nhân tố (2) Để c định xem hành vi được thực hiện hợp trong các trường hợp hay không, tòa án sẽ xem xét các hoàn cảnh liên quan của người đó, các bên khác hành vi, bao gồm nhưng không giới hạn các yếu tố sau: o (a) tính chất của sự tấn công hoặc mối đe dọa; o (b) mức độ sắp xảy ra sử dụng lực liệu sẵn các phương tiện khác để ứng phó với khả năng sử dụng lực hay không, o (c) vai trò của người đó trong vụ việc; o (d) liệu bất kỳ bên nào trong vụ việc đã sdụng hoặc đe dọa sử dụng khí; o (e) quy , đtuổi, giới tính khả năng thể chất của các bên trong vụ việc; o (f) bản chất, thời gian lịch sử của bất kỳ mối quan hệ nào giữa các bên trong vụ việc, bao gồm bất kỳ việc sử dụng trước hoặc đe dọa lực bản chất của lực hoặc đe dọa đó; o (1.1)bất klịch sử tương tác hoặc liên lạc nào giữa các bên trong vụ việc; o (g) bản chất mức độ tương xứng của phản ứng của người đó đối với việc sử dụng hoặc đe dọa lực; o (h) liệu hành vi được thực hiện phải do sử dụng hoặc đe dọa lực người đó biết hợp pháp hay không
  • Ghi chú bên l: Không phòng thủ 

(3) Tiểu mục (1) không áp dụng nếu lực được sử dụng hoặc đe dọa bởi người khác nhằm mục đích làm điều đó họ được pháp luật yêu cầu hoặc cho phép làm trong việc quản hoặc thực thi pháp luật, trừ khi người đó vi phạm Hành vi cấu thành tội tin rằng do chính đáng 

rằng người kia đang hành động trái pháp luật [69]

Tiết 34 BLHS Canada năm 2013 đã tổng hợp tất cả các trường hợp BLHS năm 2003 đã đề ra, tuy nhiên việc tổng hợp này lại khiến cho các trường hợp phòng vệ chính đáng trở nên không rõ ràng như . Mặc vậy, các án lệ vẫn được áp dụng, do đó việc rút gọn đi như vậy sẽ không ảnh hưởng quá nhiều đối với việc xét xử của Toà án. Đồng thời, Tiết 34 của BLHS Canada năm 2013 đã nêu các căn cứ để xem xét một hành vi phòng vệ hợp , đây những căn cứ chính để xem xét, nhưng không phải chỉ những căn cứ đó mà thể dựa o những căn cứ khác, tuỳ từng tình huống cụ thể. bản, các yếu tố để xác định một hành vi phòng vệ chính đáng được quy định trong Tiết 34 BLHS Canada 2013 bao gồm

Thứ nhất, người phòng vệ tin rằng đang hành vi sử dụng lực hướng tới họ/người khác hoặc mối đe doạ sử dụng lực đang được thực hiện để chống lại họ/người khác. thể thấy rằng Luật hình sự Canada đã thay đổi từ việc thực tế phải hành vi sử dụng lực xảy ra với người phòng vệ thành việc người phòng vệ sở hợp để tin rằng mình hoặc người khác đang bị tấn công hoặc chuẩn bị bị tấn công. Thực ra đây sự kết hợp giữa việc thực tế hành vi tấn công trường hợp nhầm lẫn hành vi tấn công của người phòng vệ. Nếu BLHS năm 2003 đã phân chia ràng các trường hợp này tại Tiết 34 như đã phân tích trên, BLHS m 2013 đã gộp cả 2 trường hợp này vào một cách rất hợp và khoa học. Tuy nhiên, việc xác định nhận thức của một người về xác định một hành vị hành vi hướng tới mình được xem rất khó, không được đong đếm bằng định lượng phải xác định thông qua các chứng cứ, lời khai. Ngoài ra, Tiết 34 BLHS năm 2013 không xác định căn cứ của phòng vệ chính đáng một hành vi sử dụng lực ngay tức khắc một mối đe doạ lực đang diễn ra(a threat of force is being made). Kế thừa những quy định của BLHS năm 2003 các Án lệ đã trình bày trên, yếu tố mối đe doạ lực đang diễn rabao gồm cả những hành vi tấn công ngay tức khắc, cả những nh vi không phải chuẩn bị tấn công ngay tức khắc nhưng đủ căn cứ hợp để xác định rng sẽ hành vi tn công xảy ra nếu không ngăn chặn kịp thời cả các trường hợp không hạn chế sự cuồng tính. Mặc việc quy định như vậy sẽ khiến việc tự bảo vệ bản thân người khác, phòng chống tội phạm được thúc đẩy nhưng thể lại căn cứ trốn tránh trách nhiệm nh scủa những hành vi phòng vệ quá sớm

– Thứ hai, hành vi phòng vệ được thực hiện với mục đích tự vệ hoặc bảo vệ bản thân hoặc người khác khỏi việc sử dụng hoặc đe dọa lực đó. Về bản, yếu tố thứ hai này gần như giống hoàn toàn so với quy định theo BLHS năm 2003. Đó căn cứ o mục đích của hành vi phòng vệ, đó phải sử dụng để tự vệ, bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ người khác (quy định tại Tiết 34, 35 37 của BLHS năm 2003). Tuy nhiên, BLHS năm 2013 đã một thay đổi quan trọng mang tính hiện đi hơn rất nhiều. Theo như BLHS m 2003, Tiết 37, một người chỉ được phòng vệ nếu người thuộc trách nhiệm bảo vệ của họ (any one under his protection) gặp nguy hiểm. Mặc BLHS năm 2003 không định nghĩa người thuộc trách nhiệm bảo vệ bao gồm những ai, nhưng chắc chắn phải quen biết hoặc thân quen hoặc họ hàng với người phòng vệ. Việc quy định như vậy hạn chế rất nhiều việc phòng chống tội phạm, bởi lẽ những người xa lạ skhông căn cứ để giúp đỡ lẫn nhau chống lại các hành vi tấn công của người khác. BLHS Canada năm 2013 đã thay đổi điều này bằng cách xác định chủ thể được bảo vệ khỏi hành vi tấn công người khác(other person). Người khác thể được xác định bất kể người nào, do đó hành vi bảo vệ một người xa lạ khỏi một hành vi tấn công trái phép đã được chấp nhận khuyến khích thực hiện. Đây một thay đổi tạo ra một sở rộng hơn rất nhiều các trường hợp được coi phòng vệ chính đáng theo Luật hình sCanada. Việc quy định như vậy phù hợp với bản chất của phòng vệ chính đáng, cũng phù hợp với đạo đức hội, lại càng phù hợp hơn với mục tiêu phòng chống hành vi phạm tội

Hành động dùng lực phòng vệ hợp . Tại BLHS m 2003, chưa có những quy định cụ thể về thế nào một hành vi hợp , chỉ những luận xung quanh vấn đề này. Toà án vận dụng những án lệ, luận vào việc xét xử không một quy phạm pháp luật cố định để áp dụng. BLHS năm 2013 đã giải quyết vấn đề này bằng điểm (2) của Tiết 34, quy định cụ thể những căn cứ xác minh một hành vi phòng vệ hợp . Cụ thể, để xác minh một hành vi phải phòng vệ hợp hay không, luật hình sự Canada yêu cầu xem xét các căn cứ sau

Tính chất của sự tấn công hoặc mối đe dọa 

Đây căn cứ đầu tiên để xác định hành vi chống trả phải một hành vi phòng vệ chính đáng hợp không? Tính chất của sự tấn công hoặc mối đe doạ stấn công chính về tng thể của sự tn công hoặc đe dotấn công, nhằm trả lời các câu hỏi như: Sự tấn công hoặc mối đe doạ gây ra cái chết hoặc thương tích nặng không? Sự tấn công phải tấn công đến cùng không? Sự tấn công hoặc mối đe doạ khả năng gây chết hoặc thương tích cho nhiều người không? Mức độ nghiêm trọng của hành vi? Nói chung, cần xác định bản chất của hành vi tấn công nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, từ đó xác định mức độ chống trả của người chống trả hợp lý hay không

Mức độ sắp xảy ra sử dụng lực liệu sẵn các phương tiện khác để ứng phó với khả năng sử dụng lực hay không

Để xác định hành vi là phòng vệ chính đáng, cần xem xét cả khả năng sắp xảy ra lực, liệu đó xảy ra ngay tức khắc, hay nguy xảy ra ngay tức khắc, hay sở xác định hành vi sử dụng lực sẽ xảy ra theo thói quen,... mỗi trường hợp khác nhau, mức độ lực được sử dụng để chống trả lại cũng khác nhau. Ngoài ra, cần xác định xem khi chuẩn bị bị tấn công, người phòng vệ các phương tiện khác (khí, dụng cụ cản trở) khả năng sử dụng các phương tiện đó để chống trả lại hành vi lực không

Vai trò của người đó trong vụ việc

Đây cũng một căn cứ quan trọng khi xem xét đến hành vi phòng vệ chính đáng. Vai trò của người phòng vệ vị trí của họ trong cuộc ẩu đả, đó thể người khiêu khích, thể người bị tấn công cớ, thể người thân của người 

bị tấn công hoặc thể chỉ một người xa lạ không liên quan đến hành vi tấn công. Những quy định của BLHS năm 2003 đã phân chia thành nhiều điều khoản tương ứng cho từng vai trò của người phòng vệ. Chính vậy, việc xác định vai trò của người đó trong vụ việc cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới xác định hành vi phòng vệ chính đáng

Liệu bất kỳ bên nào trong vụ việc đã sdụng hoặc đe dọa sdụng khí

Việc sử dụng khí để tấn công người khác được coi một tình tiết tăng sự nghiêm trọng của hành vi tấn công. Do việc dùng khí khng cao sẽ gây thiệt hại lớn hơn khi không dùng, nên việc sử dụng khí sẽ được xem xét khi xác định hành vi phòng vệ chính đáng. Điều này không chỉ được áp dụng cho người tấn công còn áp dụng cho cả người phòng vệ, nếu người tấn công sử dụng khí thì việc chống trả lại mạnh mẽ cần thiết, nếu người tấn công không sử dụng khí thì việc chống trả bằng khí cần phải được xem xét rất cẩn thận ràng

– Quy , độ tuổi, giới tính khả năng thể chất của các bên trong vụ việc

Đây chính căn cứ về tương quan lực lượng của các bên. Mỗi người lại những đặc điểm sinh khác nhau, do đó khả năng gây thương tích của mỗi người cũng khác nhau. Đặt vào từng tình huống cụ thể, cần xác định tương quan lực lượng của các bên để thấy được hành vi chống trả hợp hay không. Vấn đề này đã được BLHS năm 2003 xác định đã những án lệ hướng dẫn cụ thể như đã trình bày phần trước

bản chất, thời gian lịch sử của bất kỳ mối quan hệ nào giữa các bên trong vụ việc, bao gồm bất kỳ việc sử dụng trước hoặc đe dọa sử dụng lực bản chất của lực hoặc đe dọa đó

Mặc yếu tquan hệ giữa các bên trong cuộc ẩu đả được xem xét đến như một căn cứ xác định hành vi phòng vệ chính đáng, nhưng pháp luật Canada không quy định rõ vấn đề này. thể, người phòng vệ trên thực tế người khiêu khích hoặc tấn công trước, với một mức độ thấp, hoặc người đã những hành vi bạo hành về vật chất tinh thần đối với người tấn công. Tức người phòng vệ đó thể người hành vi xử sự không tốt trước, việc xác định hành vi phòng vệ chính đáng sẽ dựa vào những yếu tnày

Bản chất mức độ tương xứng của phản ứng của người đó đối với việc sử dụng hoặc đe dọa lực; và 

Hành vi phản kháng phải phù hợp tương xứng với hành vi tấn công. Đây yếu tố quan trọng nhất để xác định hành vi phòng vệ chính đáng, tất nhiên cũng yếu tố khó xác định nhất. Một hành vi phòng vệ hợp thì nhiều căn cứ để xác định theo BLHS Canada, nhưng một phản ứng tương xứng đối với việc sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng lực lại không được hướng dẫn cụ thể. Mặc đây phần khó xác định nhất, tương xứng cũng không thể xác định một cách định | lượng được bởi đó sự xác định máy móc, không phù hợp

Liệu hành vi được thực hiện phải là do sdụng hoặc đe dọa lực người đó biết hợp pháp hay không

Người phòng vệ chỉ được xét phòng vệ chính đáng khi hành vi tấn công hành vi trái pháp luật. Những hành vi tấn công hợp pháp thể là nh vi bắt giữ người phạm tội của cảnh t, nh vi trong tình thế cấp thiết,... Những hành vi này được pháp luật Canada cho phép thực hiện, do đó khi xảy ra, người chịu hậu qukhông quyền được chống trả lại để ngăn cản thiệt hại gây ra cho mình. Thậm chí, nếu họ chống trả thể phải chịu TNHS vmột số tội phạm khác.

2. Phòng vệ để bảo vệ tài sản (defence of property): 

Pp luật Canada thừa nhận quyền sở hữu tài sản quyền bản của con người. Do đó, nếu tài sản của một người bị xâm phạm, người đó không cần phải rút lui khỏi hn yêu cầu Tòa án đòi li tài sản cho mình, luật hình sự Canada cho phép bạn bất cứ lúc nào cũng thể dùng lực khi cần thiết để lấy lại tài sản của mình bị tước đoạt bởi người khác

y từng trường hợp, Luật hình sự Canada cho phép được ng lực để bảo vệ tài sản của mình hoặc do mình quản , được quy định cụ thể từ Tiết 38 đến Tiết 42 của BLHS Canada năm 2003 Tiết 35 của BLHS m 2013. Theo đó, bất cứ người nào đang sở hữu hợp pháp tài sản động sản cũng quyền dùng lực mức tối thiểu nhằm ngăn chặn việc bị lấy đi tài sản của mình hoc đoạt lại tài sản bị người khác chiếm giữ trái phép. Một người đang sở hữu tài sản một cách ngay tình (tạm dịch từ peaceable possession of property under a claim of right) [4, tr. 242] cũng quyền dùng lực, thậm chí đối với người đang kiện đòi quyền sở hữu đối với tài sản đó, để bảo vệ tài sản. Đối với bất động sản, lut hình sự cũng cho phép sử dụng lực để bảo vệ. Cụ thể nếu một người xâm phạm chỗ chống lại bạn khi bạn đang ngăn cản họ thì bị xem hành vi tấn công người khác trái phép. Khi đó, bạn sẽ được luật cho phép dùng lực cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe mạnh (bên cạnh việc bảo vệ tài sản). Nhìn chung các Tiết không hạn chế mức độ dùng lực, miễn sao cần thiết để bảo vệ tài sản, thậm chí giết chết kẻ xâm phạm tài sn

a. Phòng vệ để bảo vệ tài sản nhân (defence of personal property): 

Luật hình sự Canada phân biệt giữa trường hợp bảo vệ tài sản của mình hoặc tài sản mình được pháp luật trao quyền sở hữu với tài sản mình chỉ chiếm hữu

Trường hợp tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo, luật quy định tại Tiết 38

(1) Một người đang chiếm hữu một cách bình yên tài sản nhân bất ai hỗ trợ người này một cách hợp pháp đều được biện minh khi (a) Phòng chống lại một người xâm phạm không cho lấy đi tài sản này, hoặc (b) Lấy lại tài sản đó từ người xâm phạm khi người xâm phm lấy đi, nếu người đó không đánh hoặc gây thương tích cho người xâm phạm. (2) Khi một người đang chiếm hữu trong tay tài sản nhân một người cố gắng chiếm đoạt hoặc lấy tài sản đó từ người này hoặc từ bất kỳ người nào đang trợ giúp người đó một cách hợp pháp sẽ bị coi đã thực hiện việc gây thương tích không do hoặc cớ. 

Tiết này chỉ áp dụng đối với tài sản nhân, trừ bất động sản. Cho nên, ngay cả một người đang sở hữu ngay tình tài sản nhưng không chủ sở hữu (không tranh chấp) cũng kng được dùng quy định này để bảo vệ tài sản đó

Theo Tiết 38, chẳng hạn nếu bạn phát hiện được kẻ trộm đang giữ chiếc xe đạp của bạn, bạn không chỉ quyền giành lại chiếc xe rồi bỏ mặc tên trộm còn quyền bắt hắn lại bảo: anh đã bị bắt(theo Tiết 27 BLHS Canada). Tuy nhiên, bạn không được đánh tên trộm đó trừ phi hắn chống lại bằng lực việc dùng lực để ngăn chặn sự tấn công của (đoạn 2 Tiết 38). Theo đoạn 2, bị cáo được phép dùng lực đối với kẻ chiếm đoạt tài sản nếu kẻ này hành vi chống lại. Vũ lực bị cáo dùng đây sẽ được xem xét phòng vệ chính đáng theo Tiết 34 (đã đề cập trên). Lưu ý, người được xem xét áp dng phòng vệ chính đáng đây gồm chủ sở hữu (không tranh chấp) những người giúp đỡ chủ sở hữu

Tiết 39 quy định phòng vệ trong trường hợp tài sản bị cáo đang chiếm hữu ngay tình. Quy định này như sau

(1) Bất người nào đang chiếm hữu bình yên tài sản nhân theo một yêu cầu về quyền bất người nào hành động theo thm quyền người đó, không phải chịu trách nhiệm hình sự cho việc bảo vệ quyền chiếm hữu này, thậm chí cả khi chống lại một người theo pháp luật được quyền chiếm hữu tài sản đó, nếu người đó sử dụng sức mạnh không vượt quá mức cần thiết. (2) Bất người nào đang chiếm hữu bình yên tài sản nhân, nhưng lại không yêu cầu tài sản này như một quyền hoặc không nh động theo thẩm quyền của người yêu cầu như quyền thì đều không được biện minh hoặc không được miễn trách nhiệm hình sự cho việc bảo vệ quyền chiếm hữu của mình chống lại người quyền theo pháp luật được chiếm hữu tài sản đó.

Pháp luật ưu tiên bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu thực tế hoặc theo pháp luật hơn người chiếm hữu tài sản nhưng không ngay tình hoặc không sở. thế, những người thực tế tài sản nhưng chưa sở xác lập quyền sở hữu hợp pháp những ai giúp đỡ anh ta sẽ không quyền chống lại người đang quyền sở | hữu ngay tình về tài sản đó nếu tranh chấp. Vụ án của Nykolyn (vụ án của Nykolyn đi với the King) minh họa nội dung này. Ông Nykolyn giữ chiếc valy của một phụ nữ trẻ này thiếu tiền thuê phòng của ông ta (tại Winnipeg, 1946). Vài người bạn của ta đến chỗ của Nykolyn dọa ông ta để đòi lại hành , nhưng Nykolyn không trả mà còn đánh một trong số những người bạn đó bằng búa. Nykolyn bị kết án tội gây thương tích cho người khác. Tuy nhiên thẩm phán a phúc thẩm, ngài Estey, nhấn mạnh rằng a thẩm đã phớt lờ, không áp dụng Tiết 39 vào trường hợp của Nykolyn. Estey ra quyết định mở phiên tòa phúc thẩm để xem xét hành vi của Nykolyn phải hành vi vượt quá giới hạn cho phép để chống lại ba người đàn ông. Nếu hành vi này không vượt quá thì Nykolyn sẽ được miễn tội.

b. Phòng vệ để bảo vệ nhà bất động sản (defence of dwelling-house and real property) 

Tiết 40 quy định

Bất người nào chiếm hữu bình yên một ngôi nhà và bất ai hỗ trợ hợp pháp người đó hoặc hành động theo thẩm quyền của người đó đều được biện minh khi sử dụng sức mạnh mức cần thiết để chống lại bất ai ng sức mạnh xâm nhập vào ngôi nhà đó không thẩm quyền hợp pháp

Tiết 40 cho phép chủ sở hữu (không tranh chấp) nhà những người giúp đỡ chủ sở hữu ngăn chặn kẻ xâm nhập bất hợp pháp nhà . Quy định này áp dụng cả đối với người đang thi hành công vụ (cảnh sát) khi người này hành vi vượt quá thẩm quyền, cố ý xâm nhập chỗ người khác

Tiết 41 quy định

(1) Bt người nào chiếm hữu bình yên một ngôi nhà ở hoặc bất động sản bất ai hỗ trợ hợp pháp người này hoặc hành động theo thẩm quyền của người này đều được biện minh khi sử dụng sức mạnh để chống lại bất ai xâm nhập ngôi nhà hoặc bất động sản đó, hoặc để di dời người xâm nhập ra khỏi đó nếu người đó sử dụng sức mạnh không quá mức cần thiết. (2) Một người xâm nhập vào nhà hoặc bất động sản chống lại sự cố gắng của người đang chiếm hữu bình yên nhà hoặc bất động sản đó hoặc chống lại người hỗ trợ hợp pháp người chiếm hữu hoặc hành động theo thẩm quyền của người đó nhằm chống lại việc xâm nhập hoặc đuổi người xâm nhập thì bị coi là đã thực hiện hành vi gây thương tích cớ hoặc khiêu khích

Thuật ngữ xâm nhậpđây được hiểu hành vi xâm phạm trái phép bất động sản của người khác. Một người lạ mặt thể quyền vào chỗ, bất động sản của bạn đhỏi thăm một cựu chủ sở hữu, chẳng hạn, nhưng sẽ trở thành người xâm nhập” nếu bạn mời hắn rời khỏi hắn từ chối

Theo đoạn 1 Tiết 41, bị cáo không được dùng lực chỉ thể dùng lời nói để ngăn chặn kẻ xâm nhập hoặc đuổi kẻ xâm nhập ra khỏi chỗ , bất động sản. Tuy nhiên, nếu kẻ xâm nhập chống lại yêu cầu đó thì bị cáo thể dùng lực và hành vi dùng lực sẽ được xem xét phòng vệ chính đáng theo Tiết 34 BLHS năm | 2003. Trở lại vụ án của Stephan (Xem Lịch sử Luật hình sự Anh (1883), quyển 3, trang 15). Stephan thể đuổi kẻ xâm nhập ra khỏi nhà hoặc đất của mình nhưng không được đánh người đó. Nếu kẻ m nhập chống lại, Stephan được phép dùng vũ lực. Hơn thế nữa, nếu kẻ xâm nhập tấn công, Stephan quyền ng bất cứ hành vi nào được cho cần thiết đbảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình

Tiết 42 quy định

(1) bất người nào cũng đều được bảo vệ khi đi vào một cách hoà bình một ngôi nhà hoặc bất động sản vào ban ngày để chiếm hữu ngôi nhà hoặc bất động sản đó, nếu người này hoặc người khác hành động theo thẩm quyền của người này có quyền theo pháp luật được quyền chiếm hữu. (2) Khi một người (a)Không quyền chiếm hữu một ngôi nhà hoặc bất động sản theo yêu cầu về quyền, hoặc (b) Không hành động theo thẩm quyền của người sự chiếm hữu ngôi nhà hoặc bất động sản theo yêu cầu về quyền (3) Khi một người (a) sự chiếm hữu bình yên một ngôi nhà hoặc bất động sản theo yêu cầu về quyền, hoặc (b) Hành động theo thẩm quyền của người sự chiếm hữu bình yên theo yêu cầu về quyền. gây thương tích cho bất ai quyền hợp pháp đối với việc chiếm hữu ngôi nhà hoặc bất động sản đi vào ngôi nhà hoặc bất động sản một cách hoà bình, với mục đích ngăn cản người đó không được vào, thì việc gây thương tích này được coi bị khiêu khích bởi người đã xâm nhập

Trước hết, đoạn 1 Tiết 42 công nhận quyền đi vàonhà hay bất động sản vào ban ngày của những chủ sở hữu hợp pháp. Nên nhớ rằng, chủ sở hữu trong trường hợp này chỉ quyền đối với tài sản của mình o ban ngày chứ không phải ban đêm. Cho nên, nếu chủ sở hữu đi vàonhà hay bất động sản vào ban đêm thì thể cấu thành tội xâm nhập chỗ ban đêm (Tiết 177 BLHS). Vấn đề khó đây cả Bộ luật lẫn Tòa án tối cao đều không hướng dẫn xác định ban ngày thời gian nào (?). Tiếp theo, đoạn 2 & 3 Tiết 42 nêu cụ thể khi nào các chủ thể quyền ng lực để bảo vệ tài sản của mình. Các quy định này rất chi tiết, chúng ta thể hiểu không cần giải thích thêm

BLHS năm 2013 do đã rút gọn phòng vệ chính đáng do bị tấn công thành một Tiết nên Tiết phòng vệ để bảo vệ tài sn cũng được rút lại tại Tiết 35. Tiết 35 ni dung như sau

Phòng thủ tài sản 35 (1) Một người không phạm ti nếu (a) Họ tin tưởng rằng do hợp rằng họ đang sở hữu một cách hòa bình tài sản hoặc đang hành động dưới quyền của, hoặc hỗ trợ hợp pháp, một người họ tin rằng dựa trên do hợp sở hữu tài sản một cách hòa bình; (b) Họ tin tưởng trên sở hợp rằng một người khác: (i) Sắp vào, đang vào hoặc đã vào tài sản pháp luật không cho phép làm như vậy. (ii) sắp chiếm lấy tài sản, đang chiếm hoặc vừa mới làm như vậy, ho

(iii) sắp làm hỏng hoặc phá hủy tài sản, hoặc làm cho không hoạt động, hoặc đang làm như vậy, (c) hành vi cấu thành ti phạm được thực hiện với mục đích (i) ngăn cản người khác vào tài sản, hoặc đưa người đó ra khỏi tài sản, hoc (ii) ngăn cản người kia lấy, làm hỏng hoặc phá hủy tài sản hoặc làm cho không hoạt động, hoặc lấy lại tài sản từ người đó; (d) hành động được thực hiện hợp trong hoàn cảnh

Lưu ý ngoài lề: Không phòng th(2) Tiểu mục (1) không áp dụng nếu người tin tưởng dựa trên do hợp rằng họ đang , hoặc người được cho có lý do hợp để chiếm hữu tài sản một ch hòa bình không yêu cầu về quyền đối với tài sản đó người khác người được quyền sở hữu theo luật. Lưu ý ngoài lề: Không phòng thủ (4) Tiểu mc (1) không áp dụng nếu người kia đang làm điều đó họ được pháp luật yêu cầu hoặc cho phép làm trong việc quản hoặc thực thi pháp luật, trừ khi người thực hiện hành vi cấu thành tội phạm tin rằng hợp lý căn cứ rằng người kia đang hành động trái pháp luật [39]. | Tiết 35 BLHS Canada năm 2013 một mặt đã rút gọn các trường hợp phòng vệ chính đáng để bảo vệ tài sản so với BLHS Canada m 2003, một mt đã loại bỏ một số quy định không hợp hoặc tính rườm , không cần thiết. Nếu BLHS m 2003, việc phòng vệ đối với tài sản được chia thành phòng vệ đối với động sản (Tiết 38, 39) phòng vệ đối với tài sản bất động sản (Tiết 40, 41 42), Tiết 35 BLHS Canada năm 2013 đã không phân chia ràng như vậy chỉ u hành vi cụ thể gọi chung hai loại tài sản này tài sản. Bên cạnh đó, BLHS năm 2013 đã chú trọng hơn vào những điều kiện xác định một hành vi phòng vệ chính đáng nhằm bảo vệ tài sản. Theo đó, các điều kiện được đưa ra để xác định một hành vi phòng vệ chính đáng nhằm bảo vệ tài sản được trình bày như sau

Thứ nhất, người phòng vệ phải tin tưởng rằng, những căn cứ hợp để xác nhận rằng tài sản bị xâm phạm thuộc quyền sở hữu của họ, hoặc họ được chủ sở hữu tài sản giao tài sản cho quản , sử dụng. Các căn cứ hợp thể là những giấy tờ mua bán bất động sản, những xác nhận của quan nhà nước về chủ sở hữu của bất động sản, giấy tờ xác nhận chủ sở hữu đối với động sản,... Từ những căn cứ này, người phòng vệ niềm tin hợp rằng anh ta quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản. Trường hợp thứ hai người phòng vệ được giao, được nhờ, được thuê để quản tài sản, sử dụng tài sản. dụ, người phòng vệ người được thuê để trông giữ nhà , trông giữ xe cộ. Chỉ những chủ thể này mới quyền phòng vệ để bảo vệ tài sản của mình

Thứ hai, những chủ thể này chỉ quyền phòng vệ khi hành vi hoặc họ tin tưởng hợp hành vi xâm phạm tới tài sản của họ. Những hành vi xâm phạm thể (1) người sắp vào, đang o hoặc đã vào tài sản pháp luật không cho phép làm như vậy; (2) người sắp chiếm, đang chiếm hoặc vừa mới chiếm lấy tài sn hoặc (3) người sắp hoặc đang làm hỏng, phá hủy tài sản, hoặc làm cho nó không hoạt động. Trường hợp thứ nhất chỉ được áp dụng cho bất động sản (nhà , kho xưởng các bất động sản khác), nhằm ngăn chặn một người xâm phạm trái phép tới bất động sản của mình. Đây không chỉ trường hợp bảo vệ tài sản mà có xu hướng bảo vcthân thể của những người đang trong bất động sản bởi một người xâm phạm ti phép vào bt động sản của người khác khả năng sẽ tấn công chsở hữu tài sản những người đang trong tài sản đó. Các trường hợp 2 3 được áp dụng cho tài sản nói chung, bao gồm cả đng sản bất động sản. Trường hợp 2 cho phép ngăn chặn hành vi chiếm tài sản trái phép, trường hợp 3 cho phép ngăn chặn hành vi m hỏng tài sản trái phép

Thứ ba, hành vi phòng vệ được thực hiện với các mục đích phòng ngự, cụ thể những mục đích (1) nhằm ngăn cản người khác xâm nhập trái phép vào tài sản (2) nhằm ngăn cản một người lấy, làm hỏng hoặc lấy lại tài sản từ người đó. Đây các mục đích chính đáng nhằm bảo vệ cho tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản của mình. Tuy nhiên, việc chứng minh mục đích của hành vi phụ thuc vào nhiều yếu tố kkhó xác định trong một số trường hợp

Cuối cùng, hành vi phòng vệ phải được thực hiện hợp trong hoàn cnh

Luật hình sự Canada năm 2013 không hướng dẫn cụ thể hành vi nào hành vi hợp , do đó cần dựa vào những quy định của Luật hình s2003 các án lệ để xác định một hành vi hợp trong hoàn cảnh. Đồng thời sử dụng khái niệm người hợp đã trình bày trên để xác định. Mặc việc xác định phthuộc vào thẩm phán của các phiên toà, nhưng bằng việc xác định rất nhiều án lệ trong quá khứ, do đó việc xét xử các trường hợp phòng vệ chính đáng của các thẩm phán Canada không gặp quá nhiều khó khăn như các quốc gia theo xu hướng Civil law khác

Ngoài ra, việc xác định một hành vi phải phòng vệ chính đáng không còn phải dựa vào các trường hợp người phòng vệ không quyền được phòng vệ. Các trường hợp này được BLHS Canada 2013 quy định cụ thể khoản 2 khoản 3 Tiết 35. Cụ thể, trường hợp đầu tiên trường hợp một người, anh ta tin rằng mình dựa trên một do hợp đang tài sản hợp pháp, hoặc anh ta được cho rằng do hợp đang tài sản một cách hợp pháp nhưng không yêu cầu về quyền đối với tài sản đó người khác được quyền sở hữu theo luật. Trường hợp thứ hai trường hợp người xâm phạm tài sản của người phòng vệ người được phép thực hiện hành vi đó thông qua việc được pháp luật yêu cầu hoặc cho phép làm trong việc quản hoặc thực thi pháp luật. Đây các trường hợp người xâm phạm tới tài sản của người khác không phải hành vi vi phạm pháp luật, do đó người phòng vkhông quyền phòng vệ

3. Giúp đỡ người thi hành công vụ (assisting those in authority): 

Luật hình sự Canada một ngoại lệ xem xét phòng vệ chính đáng đối với những hành vi giúp đỡ người thi hành công vụ. Pp luật các nước trên thế giới cũng quy định những hành vi như vy hoặc tương tự như vậy sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (hoặc không bị xem phạm pháp) nhưng không xem trường hợp của phòng vệ chính đáng. Chẳng hạn, theo pháp luật Việt Nam, bắt người phm pháp được xem nh vi hợp pháp (Điều 24 Bộ luật tố tụng hình sự). Không giống như các trường hợp phòng vệ chính đáng do bị tấn công phòng vệ chính đáng để bảo vệ tài sản, chế định phòng vệ chính đáng khi giúp đỡ người thi hành công vkhông bị sửa đổi qua BLHS năm 2013. Do đó, trong phần trình bày này, tác giả sẽ không sử dụng thuật ngữ BLHS Canada năm 2003BLHS Canada năm 2013dùng chung BLHS Canada.

a. Ngăn chặn hành vi phạm tội:

Tiết 27 BLHS Canada quy định:

Người được biện minh khi sử dụng sức mạnh mức độ cần thiết hợp (a) Để chng lại việc thực hiện hành vi phạm tội (i) đối với hành vi phạm tội này nếu được thực hiện thì người đã thực hiện tội phạm thể bị bắt không cần lệnh bắt, và (ii) Hành vi phạm tội nhiều khả năng gây ra thương tích, thiệt hại nghiêm trọng ngay lập tức cho người hoặc tài sản của bất ai; hoặc. (b) Để chống lại bất điều đang được thực hiện người này theo căn cứ hợp tin nếu để cho thực hiện thì sẽ một tội được quy định tại khoản (a) [34, tr. 63]. Bàn về thuật nghợp trong Tiết này, thẩm phán Dickson viết

Để đánh giá hành vi được dùng để ngăn chặn tội phạm) hợp hay không, tòa án cần cân nhắc tất cả các tình tiết, như mức độ bản chất của hành vi, khả năng dùng các biện pháp khác để ngăn chặn tội phạm, bản chất của hành vi phạm tộiTình tiết gây chết người để ngăn chặn tội phạm phải được xem khng sau cùng

Nếu sau khi n nhắc, hành vi dùng lực ràng vượt quá mức cần thiết để ngăn chặn tội phạm thì người đó phải chịu trách nhim nh sự.

b. Ngăn chặn hành vi gây rối trật tự công cộng:

Tiết 30 quy định:

Bất ai chứng kiến một vi phạm sự bình yên, trật tự đều được biện minh khi can thiệp vào để chống lại sự tiếp tục hoặc lại xảy ra vi phạm này thể bắt giữ bất người nào thực hiện hoặc đang định tham gia vào hoặc làm xảy ra sau đó svi phm này để chuyển giao người này cho cán bộ trật tự giam giữ nếu người chứng kiến này sử dụng sức mạnh không quá mức cần thiết hợp để chống lại sự tiếp tục hoặc li xảy ra vi phạm này hoặc không quá mức tương ứng hợp so với snguy hiểm của việc tiếp tục hoặc lại xảy ra sự vi phạm bình yên, trật tự này. Một số điểm cần lưu ý chúng ta thể rút ra từ Tiết 30: Hành vi gây rối trật tự công cộng phải được người ngăn chặn tận mắt chứng kiến

Chỉ được phép ngăn chặn hành vi y rối đang diễn ra hoặc tiếp tục (sau khi gián đoạn)

Người gây rối thể bị bt giữ chỉ với mục đích giao cho quan thẩm quyền

lực được dùng không vượt quá mức cần thiết so với hành vi gây rối. c. Ngăn chặn hành vi nổi loạn(riot)

Đoạn 3 & 4 Tiết 32 quy định

(3) bất người nào cũng đều được biện minh khi tuân theo lệnh của cán bộ trật tự trong việc sử dụng sức mạnh để trấn áp bạo loạn nếu (a)Người này hành động một cách trung thực, (b) Lệnh không ràng trái pháp luật. (4) Bất người nào một cách trung thực và theo các căn cứ hợp tin là một mối nguy hại nghiêm trọng sẽ xảy ra từ một cuộc bạo loạn trước khi thể gọi được cán bộ trật tự được biện minh khi sử dụng sức mạnh mức độ mình tin tưởng một cách trung thực theo căn cứ hợp (a) cần thiết để trấn áp bạo loạn, (b) Không vượt quá mức sau khi cân nhắc đến sự nguy hiểm của việc tiếp tục cuộc bạo loạn này

Bạo loạntrong quy định này được hiểu là nh vi gây rối trật tự của từ ba người trở lên với tính chất hỗn độn bạo lực nhằm mục đích dọa chung hoặc khủng bố. Theo luật hình sự Canada, bất cứ mọi nhân đều quyền đối đầu(confront) với một nhóm từ ba người trở lên

Khi sở cho rằng họ sắp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác

Và việc dùng lực không vượt quá mức cần thiết để đảm bảo an ninh chung cũng như sự an toàn của người khác

Ngăn chặn hành vi nổi loạn vừa quyền vừa là nghĩa vụ của mọi công dân

Theo Tiết 118 BLHS Canada, một người thể bị kết án tội từ chối giúp đỡ cảnh sát mà không do khi được yêu cầu. Tiết 32 một quy đnh cụ thể khi đó công dân cần phải giúp đỡ cảnh sát trong việc ngăn chặn hành vi nổi loạn. nhiên, nếu một người nào đó trong nhóm nổi loạn bị thương hoặc chết dưới tay anh, hành vi của anh sẽ được xem xét, đánh giá tính hợp cần thiết. Nếu hành vi của anh cần thiết thì anh sẽ được miễn tội quy định của phòng vệ chính đáng được áp dụng. Ngược lại, anh sẽ bkết tội.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo