Học thuyết về mô hình truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Các thiết chế về trách nhiệm hình sự liên đới của thời trung cổ được vay mượn khéo léo nhằm áp đặt TNHS cho pháp nhân; còn đối với mô hình trách nhiệm trực tiếp, các cấu trúc pháp lý cơ bản đã được chuyển từ lĩnh vực dân sự sang lĩnh vực hình sự.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Học thuyết về mô hình cổ điển (Models of Adaptation and Imitation): 

Pháp luật Common law đã phát triển hai hình nhằm quy kết TNHS cho pháp nhân TNHS sự thay thế TNHS trực tiếp bắt nguồn từ yếu tố lỗi (men rea). Đối với hình TNHS thay thế, các thiết chế về TNHS liên đới của thời trung cổ trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt (strict liability) được vay mượn khéo léo nhằm áp đặt TNHS cho pháp nhân; còn đối với hình trách nhiệm trực tiếp, các cấu trúc pháp bản đã được chuyển từ lĩnh vực dân sự sang lĩnh vực hình sự, với khả năng trực tiếp chịu trách nhiệm khi gây ra hậu quả

Thứ nhất, học thuyết về mô hình TNHS thay thế (Vicarious liability) 

Các nỗ lực trong việc sử dụng các thiết chế sẵn đã tạo ra một hình thích ứng (Models of Adaptation) hình trách nhiệm pháp gián tiếp. Ban đầu, nội dung học thuyết này được áp dụng cho trách nhiệm của người đại diện hay người sử dụng lao động đối với hành vi của nhân viên do mối quan hệ ràng buộc về mặt pháp hợp đồng; sau đó, logic này được mở rộng sức ảnh hưởng mạnh mkhi toà án tối cao Hoa Kcho rằng việc thực hiện học thuyết này lợi ích công, để giám t hành vi của người đại diện bằng ch áp đặt hành vi của anh ta cho người chca anh ta áp dụng các hình phạt đối với ng ty anh ta đang hành động[60]. Học thuyết này sau đó phát triển hơn nữa khi được toà án Liên bang Hoa kỳ sử dụng nhằm quy kết trách nhiệm pháp của tập đoànđối với bất cứ hành động nào của đại hoặc nhân viên của mình khi thoả mãn hai điều kiện chính

Một , người đại diện hành động trong quá trình phạm vi công việc của mình, quyền hành động liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty đã thực hiện nh vi tội phạm

Hai , người đại diện hành động, ít nhất một phần thực hiện lợi ích kinh doanh của công ty

Ngoài ra, trong một vài trường hợp các tòa án Hoa Kđã thêm điều kiện thứ ba: các hành vi phạm tội đã được ban quản doanh nghiệp cho phép, dung thhoặc phê chuẩn.

Thứ hai, học thuyết về mô hình TNHS trực tiếp (The Doctrine of Direct Liability) hay học thuyết đồng nhất trách nhiệm 

Học thuyết này được phát triển trên sở bắt chước hình TNHS đối với thể nhân; cụ thể, học thuyết trực tiếp dựa trên ý niệm về việc nhân cách hóa thực thể pháp (legal body) – pháp nhân. xác định các hành động khuôn mu suy nghĩ của một snhân trong pháp nhân những người hành động trong phạm vi quyền hạn của họ thay mặt cho pháp nhân, được coi như hành vi của chính pháp nhân đó. Mặt khác, pháp nhân phải chịu TNHS đối với hành vi phạm tội hđược coi thủ phạm giống như thể nhân

Việc coi pháp nhân như một thực thể độc lập trong quan hệ PLHS dẫn tới yêu cầu trong các tình huống của vụ việc và dưới góc độ vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người đại diện trong việc quản các công việc của quan công ty hành vi anh ta thực hiện hành vi phạm tội, ý định phạm tội của anh ta hoặc suất của anh ta được coi hành động, mục đích phạm tội hoặc suất của chính pháp nhân. Sự đồng nhất về mặt hành vi đây dựa trên cấu trúc của pháp nhân sự ràng buộc với một số thể nhân với cách người tham gia vào kiểm soát công ty với tư cách giám đốc, người quản , thư hoặc các nhân viên tương tự khác.

Mặt khác, thuyết này cũng cố gắng hình hoá pháp nhân theo cấu trúc của một con người sinh học. Điển hình như việc tả chế hành vi của pháp nhân theo đó: pháp nhân có tay cầm công cụ hành động theo mệnlệnh của hệ thần kinh trung ươnghay xác định một nhân hoặc một tập thể bođồng nhất ý thức của pháp nhân với nhóm người này.

2. Lý thuyết về kiến thức tập thể (The Aggregation Model: The Idea of Collective Knowledge): 

Kiến thức tổng hợp hay kiến thức tập thể (Collective Knowledge) kết quả của sự ảnh hưởng của các thuyết về hội học và quản trong việc luận giải mặt chủ quan của tội phạm đối với pháp nhân với nội dung cho rằng kiến thức của pháp nhân tổng thể những tất cả nhân viên biết trong phạm vi công việc của họ; điều này thể hiện kiến thức tất cả mọi người cùng biết kiến thức bổ khuyết cho nhau của tất cả nhân viên. hình này sức ảnh hưởng mạnh sau khi ngân hàng New England bị kết tội cố ý vi phạm Đạo luật Báo cáo Giao dịch Tiền tệ liên quan đến việc không báo cáo các giao dịch tiền mặt vượt quá 10000$. Cụ thể ngân hàng đã trốn tránh nghĩa vụ báo cáo bằng cách để một khách hàng liên tục rút tiền từ tài khoản dưới định mức phải báo cáo (10000$), mỗi lần rút khách hàng lại thực hiện với một nhân viên giao dịch khác vào thời điểm khác nhau, tuy nhiên, tổng số tiền giao dịch với khách hàng đó thì vượt quá số tiền cần báo cáo. Toà án sau đó đã lập luận rằng ngay cả khi sử dụng nhiều séc, thì ngân hàng cũng được coi biết điều đó nếu mỗi nhân viên trong số một số nn viên biết một phần của yêu cầu báo cáo tổng những các nhân viên riêng biệt biết tương đương với kiến thức rằng yêu cầu đó tồn tại. Các cáo buộc của toà án đối với ngân hàng New England sau đó bị chính ngân hàng này kháng cáo với lập luận tập trung vào tính hợp lệ, giá trị pháp lý của kiến thức tập thể; tuy nhiên, các lập luận này sau đó bị toà pc thẩm bác bỏ

Lp lun về kiến thức tập thể kể từ đó được manh nha hình thành dần sử dụng trong một số lượng lớn các vụ án, đặc biệt khi khó thể chỉ ra một nhân cụ thể hành động trong khuôn khổ pháp nhân ý thức chủ quan của họ dấu hiệu tội phạm. Mặc vậy, lập luận về tri thức tập thể cũng gặp phải những hạn chế nhất định, đặc biệt khi các nhà nghiên cứu phân tách hai yếu tố cấu thành của lỗi gồm (i) nhận thức, tri thức (ii) yếu tố cảm xúc, thái đm lý; ràng yếu tthứ hai chỉ tồn tại trong một con người sinh học, chứ không trong pháp nhân

3. Học thuyết về mô hình nhân dạng cá biệt (The Model of Separate Self-Identity): 

thuyết về nhân dạng biệt được ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của thuyết trách nhiệm liên đới, đng thời nhằm phù hợp với cấu trúc phức tạp của pháp nhân hiện nay với lập luận cho rằng không người đại diện nào đầy đủ kiến thức cần thiết để tạo ra ý định phạm tội cho pháp nhân

thuyết về nhận dạng biệt không cố gắng đi luận giải bản chất về trách nhiệm pháp nhân tập trung vào việc hình hchứng minh khnăng thể hiện đặc trưng riêng của mỗi pháp nhân điều tạo nên danh tính riêng của họ; với giả định cụ thể một pháp nhân lớn không chỉ một tập hợp những người định hình và vận hành , còn một tập hợp c thái độ ý chí sự ràng buộc, thậm chí đôi khi xác định phương thức suy nghĩ và nh vi của cấu thành : c tổ chức hệ thốngkhông chỉ tập hợp của các nhân. Quan trọng hơn... tổ chức bao gồm một tập hợp các kỳ vọng về cách giải quyết các loại vấn đề khác nhau[48]. Các giả định này sau đó được bsung theo hai hướng

Thứ nhất, bản sc riêng của một pháp nhân ảnh hưởng đến việc tuân thủ luật pháp của , cả tích cực tiêu cực. Một pháp nhân thể hiện bản sắc của mình bằng cách thiết lập thực hiện các chế kiểm soát giám sát, cũng như bằng cách tạo ra một đặc tính chung môi trường làm việc. Bằng các thiết bị này, thể tăng mức độ tuân thủ trong tổ chức hoặc khuyến khích xu hướng hành vi cẩu ththậm ccố ý phạm pháp

Thứ hai, người ta có ththông qua nét đặc trưng của pháp nhân để dự đoán hành vi của ; cần lưu ý, các đặc điểm này thể được định hình và thậm chí sửa đổi. Theo đó, tồn tại sự liên kết chặt chẽ giữa khả năng tự kiểm soát với việc nhận dạng một pháp nhân và đặc biệt với trách nhiệm pháp

Các quan niệm về lỗi cũng được kế thừa một phần từ Collective Knowledge, với lập luận về một dạng cấu trúc lỗi đặc biệt pháp nhân dựa trên khả năng lựa chọn hành vi thay thế trong bối cảnh cthể. Tuy nhiên, việc chứng minh sự tồn tại của ý định tội phạm (lỗi) của pháp nhân này về mặt tri giác, trong hầu hết các trường hợp, vẫn gắn với cách tiếp cận thông thường để chứng minh lỗi thể nhân, cũng dựa trên việc kiểm tra phân tích bằng chứng tình huống thông qua 02 phương thức chính

Một là cách truyền thống đkiểm tra nh vi của nhân viên phát hiện yếu tố lỗi trong số chúng

Phương pháp thứ hai, tập trung vào việc kiểm tra pháp nhân về sự thất bại của pháp nhân trong việc ngăn chặn hành vi vi phạm

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo