Bối cảnh ra đời của Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ

Thời Lê sơ là thời kỳ đất nước ổn định, phát triển, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ và mở rộng biên giới, hạn chế các xu hướng cát cứ, xây dựng Nhà nước tập quyền mạnh, có vị trí và uy tín lớn trong khu vực.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Điều kiện chính trị – xã hội và pháp luật thời Hậu Lê Về chính trị: 

Thời (hay còn gọi là thời Hậu , bao gồm cả giai đoạn Trung Hưng) một trong những thời kỳ vị trí đặc biệt trong lịch sử hình thành phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Triều một triều đại phong kiến lịch sử tồn tại lâu dài (từ năm 1428 đến năm 1788). Trong thời gian đó, triều đã trải qua những biến đổi thăng trầm về chính trị. Thế kỷ XV, với sự tồn tại của triều đại , được coi một giai đoạn phát triển cao của chế độ phong kiến Việt Nam về nhiều mặt. Đó thời kỳ đất nước ổn định, phát triển, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ mở rộng biên giới, hạn chế các xu hướng cát cứ, xây dựng Nhà nước tập quyền mạnh, vị trí uy tín lớn trong khu vực

Triều trải qua 10 đời vua, khởi đầu đời vua Thái Tổ (1428 1433) kết thúc là đời vua Cung Hoàng (15221527). Đây thời kỳ các hoàng đế nhà nắm trọn được quyền hành, cũng thời kỳ vỹ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. Giai đoạn phát triển cường thịnh nhất của thời đồng thời cũng đỉnh cao của thể chế chính trị pháp đời sống kinh tế văn hóa của chế độ phong kiến Việt Nam triều vua Thánh Tông (1460 1497)

Năm 1428, Lợi lên ngôi vua đánh dấu việc chấm dứt giai đoạn chiến tranh chuyển sang thời kỳ hòa bình lâu dài của dân tộc. Kinh nghiệm, tri thức thời chiến tranh rất lớn nhưng cũng chưa thực sự đủ để đưa đất nước vào con đường thái bình, thịnh trị. Vào những năm cuối đời, Lợi mắc tính đa nghi, hiếu sát nên đã giết hại một số công thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đẩy nhà vua đến chỗ phải đối diện với sự bất hợp tác của quần thần cũng như quần chúng. 

Lợi chết, Thái Tông (1434 1442), con thứ của Lợi lên nối ngôi lúc 11 tuổi. Vị vua với tuổi đời còn quá nhỏ như vậy đã không nhìn thấy được nguy với tắc thời vua cha. Vào tuổi lớn hơn, Thái Tông mải chìm trong tửu sắc, Ông phế bỏ chính cung Dương Thị Bí, lập thứ phi Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu, phế bỏ con trưởng Nghi Dân, lập con thứ Bang hoàng tử nối ngôi. Chính ông đã gây nên họa tranh giành ngôi báu dẫn đến việc anh giết em để chiếm ngai vàng xảy ra 16 năm sau khi ông chết

chốn quan trường, trăm quan chia kết cánh bức hại lẫn nhau

Thái Tông chết, con thứ Bang , tức Vua Nhân Tông (1433 1459) lên ngôi khi mới hai tuổi. Mọi công việc triều chính đều do Nguyễn Thị Anh – mẹ Bang phe nắm giữ. Nội tình đất nước đã nát nay lại càng nát hơn. Bài Trung hưng năm Quang Thuận viết

Nhân Tông lên hai tuổi đã sớm nối ngôi vua. Thái hậu Nguyễn Thị Anh thì mái gáy sớm. Đô đốc Khuyển như thỏ khôn giữ mệnh. Vua đàn mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khế. Bọn họ ngoài lòng tham, khoác lác, hoành hành khắp cõi. Kẻ thân yếu nắm quyền vị. Nạn hối lộ được công khai. Việc văn giáo lặng lẽ như băng hàn, người hiền từ phải cánh. Bậc túc nho như Tử Tấn, Trịnh Thuận Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc như đàn ông nổi dậy, như chó chuột nhe răng. Tể thần như Sủng, Sát thì ngu si không phân biệt được sáu con súc vật. Chưởng binh 

Diên, Lệ Luyện thì tịt, chẳng hiểu được bốn mùa một năm. Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa giết nhau. Người tài như Nguyễn Mộng Tuân thì bị đẩy vào vòng tai họa. Oan uống không chỉ kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát. Văn giai như công Soạn tuổi gần 80, tể thần như Ê không biết một chữ. Bọn trẻ không biết nghĩ, làm bậy, ngông cuồng, người già chẳng chết đi, trở thành mối họa. Bán quan, mua kiện, ưu giàu, ghét nghèo. Hiền tài là rường cột của triều đình sạch không như quét đất. Văn chương khí vận của nước nhà im ắng tựa cỏ khô. Bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao búa được tiến cử...

Tháng 6 năm 1460, xảy ra đảo chính cung đình một lần nữa. Một số đại thần cựu trào như Nguyễn , Đinh Liệt, Lăng, Niệm cùng nhiều văn thần, tướng khác huy động lực lượng bắt Nghi Dân cùng đồng bọn, bắt Nghi Dân xong, các quan đem xa giá đón Cung vương Khắc Xương, con thứ ba của Thánh Tông lên làm vua. Cung vương Khắc Xương lo sợ, một mực từ chối ngồi vào ngai vàng. Các quan xa giá đi đón Gia vương Thành, con thứ của Thái Tông lên làm vua tức vua Thánh Tông sau này

Khác với vua cha Thái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi, vua anh – Lê Nhân Tông lên ngôi khi mới 2 tuổi, Thánh Tông được tôn lên ngôi vua khi ông tròn 18 tuổi. Thánh Tông nổi tiếng ham học từ nhỏ, ông lại điều kiện quan sát thời cuộc, hiểu nỗi thống khổ của dân khi cùng mẹ lẩn tránh nơi thôn giã để tránh sự truy lùng, sát hại của nạn tranh giành ngôi báu xảy ra nơi cung đình. Khi được đặt vào ngai vàng, ông đã đủ bản lĩnh để nhận định, đánh giá tình hình đất nước đang rơi vào tình trạng nước sôi, lửa bỏng

Ngày 08 tháng 6 năm 1960, vừa làm lễ lên ngôi xong, Thánh Tông làm lễ phát tang cho vua Nhân Tông Thái hậu bị Nghi Dân giết vào tháng 12 năm trước. Một tháng sau khi lên ngôi, tức vào tháng 7 năm 1960

Vua lập tức ra Sắc chỉ cho các vệ quân thuộc năm đạo, các phủ, trấn, các Tổng quản, Tổng chi rằng: quốc gia bị. Nay phải theo trận đồ trong nước đã ban trong địa phận của vệ mình, phải chỉnh đốn đội ngũ, dạy cho quân lính phép đi, đúng, đấm, đánh, hiểu được hiệu lệnh tiếng chuông, tiếng trống khiến cho binh lính tập quen cung tên, không quên bị...

Với Thánh Tông trước mắt ông ba mối họa đang đe dọa sự tồn vong của nước nhà do các vua tiền nhiệm để lại

Ngoại xâm đã đến tận cửa

Bộ máy trị của đất nước bất lực, liệt. Quan lại tham nhũng. Dân chúng lầm than, đời sống của nhân dân rơi xuống tận đáy khổ cực

Kỷ cương phép nước rối bời

Đứng trước những mối họa đó, trong suốt 38 năm trị , Vua Thánh Tông luôn canh cánh trong lòng, ông ngày đêm suy nghĩ, thúc dục trăm quan luôn tận tâm, tận lực tìm ra trăm kế, ngàn sách hay để giải trừ ba mối họa đó. Ông đã tạo ra một khí thế hừng hực, trên hết vua, dưới trăm quan, tính, mọi người luôn chăm lo suy nghĩ tìm ra các chủ trương, đường lối trị nước, an dân một cách kết quả nhất

Bởi vậy, trong QTHL bên cạnh những điều luật bảo vệ quyền lợi của hệ thống quan lại, quý tộc còn nhiều điều khoản nhằm hạn chế thế lực ảnh hưởng, hạn chế sự lạm quyền của các quan đại thần nhằm buộc họ phải tuyệt đối trung thành, tận tụy với nhà vua. Bên cạnh đó, để đề phòng nguy tái xâm lược của nhà Minh, nhằm bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ, an ninh quốc gia trong hoàn cảnh vừa giành được độc lập nên các điều luật nói về các tội xâm phạm an ninh quốc gia cũng được đề cao

Về hội 

Thời , hội được chia thành hai giai cấp bản địa chủ nông dân, ngoài ra còn các tầng lớp thợ thủ công, thương nhân

Giai cấp địa chủ phong kiến bao gồm những địa chủ quan lại giữ những trọng trách trong bộ máy thống trị, đứng đầu vua các địa chủ bình dân vừa nhỏ. Giai cấp địa chủ phong kiến thời làm giàu nhờ một phần dựa vào việc bóc lột địa nhưng phần lớn dựa vào bóc lột thuế thông qua nhà nước. Chính vậy, quyền lợi của giai cấp địa chủ gắn liền với quyền lợi của nhà nước phong kiến

Giai cấp nông dân số lượng đông đảo nhất trong hội . Họ lực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống hội, điều kiện đảm bảo cho sự phát triển và phồn vinh của đất nước. Chính vậy họ được nhà nước phong kiến hết sức quan tâm bảo vệ

Tầng lớp thủ công, thương nhân tầng lớp thị dân ít ỏi sống Thăng Long, do tính chất của nền kinh tế, những người này không trở thành lực lượng hội riêng, khả năng xây dựng một nền kinh tế riêng biệt

Tầng lớp Đây tầng lớp thấp kém nhất trong hội, họ không được hưởng quyền lợi của một người dân, không được pháp luật bảo vệ. Phần lớn được dùng vào việc phục dịch trong nhà, trong dinh thự, cung điện, ít dùng trong sản xuất. Nhà nước hạn chế việc nuôi , mua bán nên đã giảm nhiều số lượng . Nhưng phải đến đầu thế kỉ XV, chế độ mới được xóa bỏ

Do chính sách độc tôn Nho giáo của triều đã dẫn đến một thực trạng tầng lớp Nho ngày càng phát triển đông đảo chiếm vị trí quan trọng góp phần tạo ra một diện mạo mới cho hội . Nho học thi cử để tuyển chọn nhân tài bổ sung cho bộ máy nhà nước ngay từ thời Thái Tổ đã được coi trọng. Tuy nhiên, giai đoạn này vị trí của nho quan nói chung còn thấp kém hơn so với đội ngũ công thần rất nhiều. Theo thời gian, tầng lớp Nho quan trong bộ máy nhà nước ngày càng đông đảo. Đặc biệt, đến Thánh Tông đã lấy trình độ học vấn hơn hẳn các quan chức, song nếu không đỗ đạt thì không được làm quan. Đội ngũ Nho nếu đỗ đạt trở thành quan lại trong bộ máy nhà nước sẽ góp phần luật hóa các quan hệ hội bản thời theo tưởng nho giáo

Về kinh tế 

Trước vương triều chế độ phong kiến quân chủ tập quyền đã được xác lập phát triển dựa trên nền tảng của loại hình kinh tế đại điền trạng thái ấp mang nặng đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Ámột quá trình phong kiến hóa hội còn thấp. Nền kinh tế điền trang thái ấp bản đã bị thủ tiêu từ triều đại nhà Hồ sau một loạt chính sách cải cách của Hồ Qúy Ly. Hòa bình lập lại, nhà nước điều kiện nắm trong tay số ruộng đất khá lớn của các quan chức, các nhà quyền thế tiền triều, của nguy quan, của những người tuyệt tự, hay của dân li tán... yêu cầu lúc này được đặt ra nhà nước phải các biện pháp nhằm khôi phục hệ thống nông nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh. Đây là điều kiện thuận lợi để nhà nước tiến hành một cuộc cải cách ruộng đất theo tinh thần gắn quyền lợi về ruộng đất với nghĩa vụ của người dân đối với dân tộc triều đại. Tinh thần này đã được quán triệt trong quá trình chia lại ruộng đất cho nông dân trả công cho các công thần thời kháng chiến qua chính sách lộc điền quân điền

Tình hình kinh tế hội nói trên là bối cảnh sở cho sự gia tăng vai trò của pháp luật. Đòi hỏi nhà vua cần phải xây dựng hệ thống pháp luật nhằm duy trì trật tự, kỷ cương củng cố chế độ phong kiến tập quyền quan liêu, bảo đảm quyền lợi của giai cấp thống trị

Tình hình pháp luật thời sơ 

Sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền thời đã đề ra yêu cầu một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự hội lợi ích cho giai cấp thống trị, để bảo vệ nền chuyên chế chính của giai cấp phong kiến. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, QTHL đã ra đời. QTHL Bộ luật quan trọng nhất chính thống của triều đại này đã đưa Việt Nam trở thành một quốc gia tiêu biểu nền pháp quyền khởi vào loại sớm trên thế giới. Hơn thế, với tầm vóc lớn lao ý nghĩa đặc biệt của mình QTHL còn được coi bộ luật tiêu biểu nhất của hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa pháp tính nhân văn của dân tộc Việt Nam

nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử ra đời của Luật Hồng Đức. quan điểm cho rằng bộ luật này được ban hành dưới triều vua Thánh Tông, bởi tên của luật gắn liền với niên hiệu thứ hai của vị vua này. Tuy nhiên, quan điểm chung của giới khoa học Việt Nam hiện nay cho rằng QTHL (luật Hồng Đức) kết quả của quá trình lập pháp liên tục của các triều vua Hậu , trong đó vai trò đặc biệt quan trọng của Thái Tổ đóng góp lớn lao của Thánh Tông những vị vua anh minh vào bậc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam

Theo các tài liệu chính sử, sau cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418 – 1428), Lợi lên ngôi vua (Thái Tổ), lấy niên hiệu Thuận Thiên, đặt quan chế, xây dựng bộ máy quan lại, ban hành pháp luật cai trị đất nước. Thái Tổ cho rằng: Từ xưa đến nay, trị nước phải pháp luật, người không pháp để trị thì loạn. Cho nên, bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật để dạy các quan, dưới đến nhân dân cho biết thế nào thiện, ác, điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, chớ phạm pháp

Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lợi đã cùng các đại thần biên soạn một số luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất của thôn . Những loại hình phạt, những lễ ân giảm trong QTHL (49 điều thuộc chương Danh lệ) phần lớn đều được quy định trong thời vua Thái Tổ. Ba mươi hai điều luật trong chương Điền sản để pháp chế hóa các thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽ trong những năm Thuận Thiên (1428 1433) được thực hiện suốt trong thời . Tuy vậy, do đây mới chỉ bước đầu xây dựng nên pháp luật thời vua Thái Tổ còn nhiều thiếu sót, nhất về phương diện hữu tài sản. 

Từ thời Thái Tổ đến Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, các triều vua đã dày công xây dựng hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam ngày càng phong phú hoàn thiện, thể hiện trong hàng loạt các luật (bộ luật) được ban hành thi hành

Trong thời vua Thái Tông (1434 1442), một số nguyên tắc xét xử các vụ kiện cáo về một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với người nước ngoài được xây dựng thêm.

Thời vua Nhân Tông (1422 1497), do việc thi hành những chính sách ruộng đất tích cực nên nền kinh tế nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng với sự mở rộng của các hình thức sở hữu vừa nhỏ nên việc mua bán, chuyển nhượng ruộng đất diễn ra rất phổ biến. Để hạn chế những tranh chấp phát sinh, đảm bảo ổn định sản xuất nông nghiệp, Nhân tông đã bổ sung vào bộ luật chương Điền sản gồm 14 điều khẳng định về bảo vệ quyền hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạm đến quyền tự hữu ruộng đất. Theo nhà sử học Phan Huy Chú thì từ đó về sau các vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân gian mới tiêu chuẩn(Hình luật chí trong Lịch triều hiến chương loại chí)

Sang thời Thánh Tông (1460 1497), triều đình liên tiếp ban bố nhiều điều lệ về kế thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ti trật tự về đạo đức phong kiến, về việc trấn áp mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị của giai cấp phong kiến. Sách Hồng Đức thiện chính thư Thiên Nam hạ tập còn ghi chép lại nhiều điều luật ban bố về thi hành trong thời vua Thánh Tông theo thứ tự từng năm. Riêng trong bộ luật Thiên Nam hạ tập còn ghi lại 40 điều luật thi hành trong năm Quang Thuận (1460 1469) 61 điều trong năm Hồng Đức (1470 1497)

Năm 1983, vua Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố thi hành trong các triều vua thời , tập hợp lại, xây dựng thành một bộ pháp điển hòa chỉnh. Đó QTHL, người ta thường gọi Bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trò xây dựng của vua Thánh Tông

Bộ luật này được thi hành trong suốt thời nhà từ đến Trung Hưng (1533 1789), nghĩa từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, nhiên các triều vua sau đó sửa đổi, bổ sung ít nhiều. Toàn văn bộ luật này còn được bảo tồn đến nay dưới tên QTHL hay triều hình luật còn được ghi chép lại trong Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí do Phan Huy Chú biên soạn

QTHL một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp hiện đại

2. Điều kiện chính trị hội pháp luật thời nhà Nguyễn:

Về điều kiện chính trịhội 

Triều Nguyễn tồn tại trong giai đoạn từ (1802 1945). Bắt đầu từ khi Nguyễn Ánh đánh đổ nhà Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy hiệu Gia Long (1802) đến khi vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn Bảo Đại thoái vị (1945) triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam, với hơn một thế kỷ tồn tại (143 năm), trải qua 13 đời vua

Nhà Nguyễn được thành lập đứng trước những thời thách thức mang tính lịch sử thời đại (tiếp quản một lãnh thổ đất nước thống nhất dài rộng từ Ải Nam Quan đến mũi Mau, xây dựng bộ máy chính quyền mới sau một thời gian dài các thế lực tranh chấp quyền lực, phong trào nông dân cuộc đấu tranh giai cấp liên tiếp xảy ra từ thế kỉ XVIII). đặt ra vấn đề đòi hỏi người cai trị đất nước lúc đó phải những việc làm phù hợp trong việc xây dựng, sử dụng pháp luật một cách hiệu quả để quản đời sống hội, để phát huy những lợi thế khắc phục những khó khăn. Nếu không sẽ đưa đất nước ngày càng rơi vào tình trạng hỗn loạn

Về mặt kinh tế, Nhà nước vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến trên sở chế độ sở hữu nhân như dưới triều ngày càng mở rộng, chính sách tích cực trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt việc quản mở rộng đất đai (nhiều nhất quai đê, lấn biển lập làng). Nông nghiệp vẫn chú trọng, nhưng công thương nghiệp vẫn bị hạn chế nhiều. Dưới triều Nguyễn, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của chế độ sở hữu chiếm hữu nhân về ruộng đất

Mặc đã nhiều biện pháp tích cực nhằm phát triển nền kinh tế nông nghiệp, nhưng do không hài hòa, không phù hợp với quy luật khách quan của hội nên các chính sách kinh tế chung của triều Nguyễn đã kìm hãm nền kinh tế phát triển theo xu hướng kinh tế hàng hóa. Đồng thời do thiên tai liên tục phía Bắc, chính sách thuế nông bất hợp nền kinh tế nông nghiệp thời Nguyễn vẫn đình trệ rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc

Nền kinh tế hàng hóa đã sự phát triển mạnh mẽ, một số mầm mống kinh tế bản chủ nghĩa đã xuất hiện, đòi hỏi chính quyền thống trị phải sự quan tâm để thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển, nhất trong bối cảnh đứng trước nguy bị chủ nghĩa bản phương Tây đe dọa xâm lược

Về mặt hội, Nhà nước vẫn chú trọng duy trì chế độ học hành, thi cử để tuyển dụng quan lại, tiếp tục đề cao Nho giáo, quan tâm khuyến khích sự phát triển của các loại hình văn hóa dân tộc khác như văn học, sử học, nghệ thuật triều Nguyễn cũng lập Quốc Tử Giám, mở khoa thi Hương thi Hội để đào tạo nhân tài. Từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, triều Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đỗ 292 Tiến 266 Phó bảng, cộng 558 người. Khu Văn Miếu tại kinh đô Huế còn lưu giữ 32 tấm bia Tiến thời Nguyễn. Công việc biên soạn Quốc sử, các bộ chính sử của vương triều, các bộ tùng thư địa chỉ được đặc biệt quan tâm để lại một di sản rất đồ sộ. thể nói, trong thời quân chủ, chưa có Quốc Sư Quán của vương triều nào hoạt động hiệu quả để lại nhiều công trình biên soạn đến như thế

Bên cạnh những cống hiến tích cực thì vẫn còn hạn chế về kinh tế hội thời kỳ này. Những năm đầu nắm chính quyền, vua Gia Long đã cho thi hành chính sách khắc, mở rộng phạm vi trừng trị hình sự, củng cố sự bất bình đẳng hội không quan tâm nhiều đến chính sách hội, bảo đảm đời sống cho người dân. Đây cũng là nguyên nhân pháp luật dân sự ít được đề cập đến triều vua Gia Long, sự thiếu sót ban đầu trong chính sách dân luật nhất pháp luật hôn nhân gia đình của thời nhà Nguyễn. Vương triều Nguyễn ban hành nhiều chính sách khẩn hoang tích cực, kể cả một số chính sách giảm nhẹ thuế, nhưng hội thời Nguyễn không ổn định. Gần như trong suốt thời Nguyễn, khởi nghĩa nông dân nổ ra triền miên triều Nguyễn không thể nào giải quyết nổi. Từ triều Tự Đức (18481883), vương triều Nguyễn càng ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập làm cho thế nước ngày càng suy yếu cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Những vấn đề chính trị hội xét cả trên phương diện thành tựu hạn chế đều sở quan trọng cho việc đánh giá khách quan về nền pháp luật (nhất pháp luật hôn nhân gia đình) thời kỳ nhà Nguyễn

Về bộ HVLL dưới triều vua Gia Long 

HVLL một trong hai bộ luật lớn nhất của Việt Nam, cũng bộ luật hoàn chỉnh nhất xét trên phương diện lập pháp. Nhà Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long liền lệnh cho biên soạn một bộ luật nhằm làm công cụ cho công cuộc trị nước lâu dài

Sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long đã ra Chỉ Dụ cho các quan đại thần tham chước lại luật Hồng Đức luật Đại Thanh để soạn một bột luật thích hợp. Năm 1812, bộ HVLL (còn gọi Bộ luật Gia Long) được ban hành năm 1815 được in thành sách để phân phát cho các quan cai trị

HVLL sản phẩm lập pháp dưới triều Gia Long triều đại đầu tiên của vương triều Nguyễn ra đời trong bối cảnh chính trị hết sức phức tạp. Trong những năm đầu nắm quyền thống trị, đất nước không ổn định sau thời gian nội chiến kéo dài, mối quan hệ nặng về thù hận với những người lãnh đạo của phong trào Tây Sơn nhất nghĩa quân Tây Sơn vẫn còn rải rác trong nhân dân, phạm vi biên giới mở rộng không tránh khỏi sự dòm ngó của phong kiến phương Bắc, sự tác động mạnh mẽ của Chủ Nghĩa Bản phương Tây.... Chính trong hoàn cảnh chính trị đặc biệt này nên HVLL tất nhiên ra đời nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt của hội đương thời nên nặng về hình luật. Tình hình đất nước chưa ổn định nên vua Gia Long chưa thể tập trung đến các quan hệ dân sự, trong đó quan hệ hôn nhân và gia đình chỉ đặc biệt chú ý đến vấn đề thuế ruộng, thuế thân. Như vậy, sẽ khập khiễng khi các nhà nghiên cứu đặt HVLL (ra đời trong bối cảnh chính trị hội đang nhiều biến động của triều Nguyễn để so sánh với QTHL (ra đời trong giai đoạn thịnh vượng của nhà nước phong kiến) dưới triều . Đây cũng nguyên nhân khiến cho ban đầu dưới triều Nguyễn, trong HVLL còn nhiều thiếu sót về mặt pháp luật nhất thiếu sót về các chế định dân luật hôn nhân gia đình

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo