Hoạt động pháp điển với sự tham gia của Cộng tác viên pháp điển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng luật. Dưới đây là bài viết về Cộng tác viên pháp điển là ai? Quyền và nghĩa vụ như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Pháp điển là gì?
Pháp điển là một từ Việt cũ, một danh từ dùng để chỉ một bộ luật (tương tự như từ “Code” tiếng Anh).” Có thể thấy điều này qua bài viết “Truyền thống pháp điển hóa qua các triều đại phong kiến Việt Nam” của TS Nguyễn Đinh Lộc (nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp), bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam là Hình thư đời Lý (1009-1225) và việc cần làm đầu tiên là phải “san định luật lệ” (sửa chữa cho gọn và quy định cho thống nhất) mà theo tác giả bài viết thì tìm thuật ngữ tương đồng trong Luật Ban hành VBQPPL” thì đó là “rà soát”. Và nổi bật trong thời kỳ phong kiến Việt Nam là Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) dưới thời nhà Lê vào thế kỷ 21 và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) dưới thời vua Gia Long vào thế kỷ XIX. Việc biên soạn các bộ luật này rất công phu, theo những quy trình, quy tắc nhất định. Đến thời Pháp thuộc, Việt Nam chịu ảnh hưởng của xu hướng kỹ thuật pháp điển hóa của Pháp qua Bộ luật dân sự nổi tiếng Napoleon 1804. Sau này, ví dụ như Bộ luật dân sự năm 1995… Như vậy, pháp điển cần được hiểu là bộ luật, chứa đựng trong đó hệ thống các QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ cụ thể.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể có đủ nghĩa như sau: Pháp điển là quá trình hình thành nên một văn bản pháp luật mới có kết cấu và phạm vi điều chỉnh lớn, theo những nguyên tắc, phương pháp nhất định nhằm trật tự hóa các QPPL có mối quan hệ ràng buộc, mật thiết với nhau để trở nên có tính hệ thống, liên kết, hợp lý, khoa học, có tính tổng hợp cao trên cơ sở việc rà soát, tập hợp, sắp xếp các QPPL trong các VBQPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và kết quả cuối cùng của quá trình này thưởng là bộ luật đạo luật (nếu pháp điển hóa về nội dung) hoặc bộ pháp điển theo chủ đề, lĩnh vực (nếu pháp điển hóa về hình thức).
Pháp điển là một quy trình kỹ thuật pháp lý phức tạp. Kết quả cuối cùng của nó hưởng đến việc tạo ra một văn bản pháp luật mới về nội dung hoặc về hình thức hoặc có thể cả hai.
2. Cộng tác viên pháp điển là ai?
Theo quy định tại Điều 2 của Quy chế quản lý, sử dụng Cộng tác viên do Bộ Tư pháp ban hành trong công tác pháp điển hệ thống QPPL ban hành kèm theo là Quyết định 3174/QĐ-BTP năm 2014 có quy định về định nghĩa Cộng tác viên pháp điển như sau:
“Cộng tác viên pháp điển là các chuyên gia, nhà khoa học có kiến thức về công tác pháp điển hoặc có kinh nghiệm chuyên môn về pháp luật phù hợp với nội dung đề mục được đơn vị thuộc Bộ Tư pháp ký hợp đồng cộng tác để thực hiện công tác pháp điển (sau đây gọi tắt là Cộng tác viên)”
Theo đó có thể hiểu Cộng tác viên pháp điển là các chuyên gia, nhà khoa học có kiến thức, âm hiểu về công tác, hoạt động pháp điển hoặc có kinh nghiệm chuyên ngành về pháp luật phù hợp với nội dung, mục tiêu đề mục được đơn vị thuộc Bộ Tư pháp ký kết hợp đồng cộng tác với nhiệm vụ là thực hiện công tác pháp điển.
Kết hợp với khái niệm của hoạt động pháp điển bên trên thì Cộng tác viên pháp điển là các nhà khoa học, chuyên gia có kiến thức về quá trình hình thành nên một văn bản pháp luật mới về nội dung hoặc về hình thức hoặc có thể cả hai được cơ quan có thẩm quyền ký kết hợp thông qua hợp đồng cộng tác.
3. Quyền và nghĩa vụ Cộng tác viên pháp điển là như thế nào?
Quyền và nghĩa vụ của Cộng tác viên pháp điển được quy định tại Điều 5 của Quy chế quản lý, sử dụng Cộng tác viên do Bộ Tư pháp ban hành trong công tác pháp điển hệ thống QPPL ban hành kèm theo là Quyết định 3174/QĐ-BTP năm 2014.
3.1. Quyền của Cộng tác viên pháp điển:
– Cộng tác viên pháp điển được cung cấp những tài liệu, hồ sơ liên quan và các điều kiện cần thiết, quan trọng khác để phục vụ cho mục đích là thực hiện công việc theo hợp đồng cộng tác. Đây là quyền lợi đương nhiên của Cộng tác viên bởi khi thực hiện nhiệm vụ làm ra các bộ luật hoặc các quy định pháp luật mới việc cung cấp cho họ những tài liệu lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn rất quan trọng. Điều này giúp cho kết quả của công việc là dựa trên những nghiên cứu, tài liệu khác quan đã được chứng thực, đảm bảo sự thực hiện có hiệu quả và phù hợp với các quan hệ xã hội cần được điều chỉnh.
– Được kiến nghị, đề xuất với Thủ trưởng đơn vị cộng tác về các vấn đề, nội dung có liên quan đến quá trình thực hiện pháp điển. Cũng tương tự như quyền lợi trên việc Cộng tác viên pháp điển có quyền đề xuất, kiến nghị để thu thập thông tin, điều chỉnh công tác làm việc cũng nhằm nâng cao chất lượng cho việc thực hiện công tác phát điển.
– Được thanh toán thù lao theo hợp đồng cộng tác. Theo đó, hợp đồng cộng tác là một loại hợp đồng mà trong đó hai hoặc nhiều bên cùng hợp tác để đạt được một mục tiêu chung. Thanh toán thù lao theo hợp đồng cộng tác có nghĩa là các bên đã thỏa thuận về một khoản tiền thanh toán được trả cho những công việc và dịch vụ cụ thể mà một bên đã thực hiện.
– Được Bộ trưởng Bộ Tư pháp khen thưởng hoặc biểu dương theo quy định của pháp luật khi Cộng tác viên có thành tích trong công tác pháp điển. Thành tích này có thể liên quan đến việc tìm tòi, nghiên cứu, giải quyết các vấn đề pháp lý, đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác pháp điển. Khi được Bộ trưởng Bộ Tư pháp biểu dương, khen thưởng theo quy định của pháp luật, người đó sẽ được công nhận và đánh giá cao về nỗ lực và thành tựu của mình trong công tác pháp điển. Đồng thời, việc này cũng giúp khuyến khích và động viên người làm việc trong lĩnh vực pháp luật để tiếp tục phấn đấu, đóng góp cho sự phát triển của nền tảng pháp luật của đất nước.
3.2. Nghĩa vụ của Cộng tác viên pháp điển:
– Thực hiện nghiêm túc, phù hợp Quy chế quản lý, sử dụng Cộng tác viên do Bộ Tư pháp ban hành trong công tác pháp điển hệ thống QPPL, hợp đồng cộng tác và quy định của pháp luật. Vì vậy, việc thực hiện nghiêm túc Quy chế này, hợp đồng cộng tác và quy định của pháp luật có nghĩa là người thực hiện sẽ tuân thủ và áp dụng đầy đủ các điều khoản, cam kết được thể hiện trong hợp đồng cộng tác. Đồng thời, người thực hiện cũng sẽ tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp và tránh vi phạm.
– Cộng tác viên có trách nhiệm thực hiện các quy định pháp luật trong quá trình pháp điển, đảm bảo đúng với nội dung được thể hiện trong hợp đồng. Nếu pháp điển không đúng quy định, người thực hiện phải thực hiện chỉnh lý hoặc pháp điển lại để đảm bảo chất lượng kết quả pháp điển. Điều này có nghĩa là người thực hiện phải chịu trách nhiệm về chất lượng và tính hợp pháp của kết quả pháp điển và tuân thủ các quy định pháp luật về pháp điển để tránh vi phạm pháp luật.
– Cộng tác viên có trách nhiệm chịu trách nhiệm với đơn vị sử dụng cộng tác viên về các hoạt động và kết quả thực hiện công việc theo hợp đồng và pháp luật. Việc chịu trách nhiệm này bao gồm đảm bảo tính hợp pháp và chất lượng của kết quả công việc được thực hiện bởi cộng tác viên, bảo vệ quyền lợi của cộng tác viên và đơn vị sử dụng cộng tác viên. Nếu cộng tác viên vi phạm quy định trong hợp đồng và pháp luật, người chịu trách nhiệm sẽ phải chịu trách nhiệm về những hậu quả pháp lý có thể phát sinh do việc này.
4. Vai trò của Cộng tác viên pháp điển:
Giống như đa số các nước trên thế giới, phần lớn các VBQPPL do cơ quan lập pháp ban hành đều từ đề xuất trình của Chính phủ (các bộ, cơ quan ngang bộ) bởi đây là hệ thống cơ quan thực hiện quản lý, điều hành và nắm rõ mọi mặt đời sống xã hội. Qua đó, hoạt động pháp điển với sự tham gia của Cộng tác viên pháp điển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng luật. Khi đã đưa được các quy định theo chủ đề pháp lý nhất định vào cùng một kết cấu thống nhất, sắp xếp một cách có hệ thống, logic, không còn bị rải rác trong quá nhiều văn bản tách rời thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định sẽ được thực hiện một cách dễ dàng hơn, rút ngắn được thời gian và các công đoạn.
Ngoài ra do họ là những chuyên gia, nhà khoa học có kiến thức chuyên môn cũng sẽ góp phần tạo nên sự nhìn nhận mạch lạch hơn về các chính sách pháp luật để có những điều chỉnh phù hợp hơn với thực tế khách quan, cũng như tạo nên lối tư duy mới trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tăng tính hiệu lực, hiệu quả trong thi hành pháp luật.
Các văn bản pháp luật được sử dụng trong bài viết:
Quyết định 3174/QĐ-BTP năm 2014 Quy chế quản lý, sử dụng Cộng tác viên của Bộ Tư pháp trong công tác pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
