Xử lý đối với hành vi làm nhục người khác trên mạng xã hội

Xử lý đối với hành vi làm nhục người khác trên mạng xã hội. Trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại đối với người có hành vi xúc phạm danh dự người khác.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Xử lý đối với hành vi làm nhục người khác trên mạng xã hội. Trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại đối với người có hành vi xúc phạm danh dự người khác. 


Tóm tắt câu hỏi:

Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cho tôi vấn đề như sau: Hiện tại có một người là vợ của một anh làm cùng cơ quan với tôi cho rằng tôi và chồng chị đó có quan hệ bất chính với nhau. Chị đấy nhắn tin đe dọa và còn bêu xấu thông tin của tôi trên mạng xã hội, những tin nhắn trước đây tôi đã xóa, tôi chỉ giữ những tin nhắn mới đây và chụp lại ảnh đã đăng trên mạng xã hội. Với những điều đó tôi muốn kiện người đó có được không và thủ tục như thế nào? Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật Hình sự 1999

– Bộ luật dân sự 2005

– Nghị định 174/2013/NĐ-CP

2. Giải quyết vấn đề:

Theo thông tin bạn cung cấp, có người vợ của đồng nghiệp bạn cho rằng bạn và đồng nghiệp là chồng của người đó có hành vi quan hệ bất chính với nhau, người đó còn nhắn tin đe dọa và đăng thông tin xấu về bạn trên mạng xã hội, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của bạn. Hành vi nêu trên tùy theo tính chất, mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo Điều 121 Bộ luật Hình sự 1999:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trong trường hợp hành vi nêu trên nếu không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người có hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

Trong trường hợp, này, bạn cần làm đơn gửi đến cơ quan công an có thẩm quyền để xử lý đối với hành vi vi phạm nêu trên. 

xu-ly-doi-voi-hanh-vi-lam-nhuc-nguoi-khac-tren-mang-xa-hoi

>>> Luật sư tư vấn pháp luật về xúc phạm danh dự người khác trên mạng: 1900.6568

Ngoài ra, người có hành vi xúc phạm bạn còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó, Khoản 1, Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Xác định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có các nội dung sau:

+ Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại

+ Thu nhập thực tế hoặc bị giảm sút

+ Một khoản bù đắp tổn thất tin mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận đượct hì mức tối đa không quá 10 tháng do Nhà nước quy định.

Trong trường hợp nếu hai bên không thỏa thuận được về mức bồi thường hoặc phương thức thỏa thuận thì có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết. Bạn nộp đơn khởi kiện kèm theo các bằng chứng, chứng minh đến Tòa án nhân dân nơi bị đơn cư trú, làm việc. 

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo