Đòi quyền lợi khi hợp đồng có thỏa thuận về mức phạt vi phạm

Tôi có mua một mảnh đất có nhà tôi và bên bán có thỏa thuận về việc thực hiện hợp đồng và đặt cọc cũng như phạt vi phạm khi không thực hiện hợp đồng, bên bán đã không thực hiện tôi đòi quyền lợi thế nào ?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Tóm tắt câu hỏi:

Chào Luật Dương Gia, tôi muốn hỏi một vấn đề sau:

Tôi có thực hiện một hoạt động mua bán đất. Tôi và bên kia có ký kết về việc mua 200m2 đất đã có nhà ở. Hai bên thỏa thuận với nhau giá bán là 190.000.000 đồng. Bên tôi đặt cọc là 30 triệu đồng để bên kia bán đất vào tháng sau. Khi đặt cọc tôi và bên kia có làm một bản hợp đồng cam kết với nội dung như sau:

Điều 7: Quyền và nghĩa vụ của các bên

Bên A ( Bên mua): Có nghĩa vụ đặt cọc 30.000.000 cho bên B để thực hiện việc mua bán diện tích đất 200m2.

Bên B (Bên bán): Có nghĩa vụ thực hiện cam kết, nhận tiền đặt cọc của bên A và giao nhà cho bên A khi bên A giao hết số tiền còn lại.

…….

Điều 9: Phạt vi phạm nghĩa vụ

Nếu bên mua không thực hiện việc mua bán sau thời gian quy định sẽ mất số tiền cọc là 30.000.000 đồng.

Nếu bên bán không bán cho bên mua thì sẽ phạt gấp 5 lần số tiền đặt cọc mà bên mua đã giao cho bên bán.

Tuy nhiên chưa đến thời hạn thì bên có đất bán lại trả tiền cọc và không bán cho tôi nữa, nhưng gia đình tôi vẫn muốn mua, vậy hỏi Luật sư là bên kia làm vậy có được không, liệu tôi có khởi kiện được không và nếu được tôi chỉ đòi phạt 30 triệu hay là phạt gấp 5 lần như hai bên đã thỏa thuận. Các giấy tờ này chúng tôi không công chứng nhưng có đầy đủ chữ ký hai bên và có người làm chứng nữa. Mong Luật sư giải đáp.

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty    LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty  LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định của  “Bộ luật dân sự 2015”:

“Điều 422. Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm

1. Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.

3. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.”

Như vậy, trong hợp đồng hai bên đã cam kết thực hiện nghĩa vụ và có thỏa thuận về mức phạt cụ thể thì bên bán không có quyền làm trái thỏa thuận mà hai bên đã đưa ra.”

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Mặt khác quy định tại

“Điều 358. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Như vậy, nếu không thỏa thuận về việc phạt vi phạm thì sẽ theo quy định là trả lại và bồi thường một khoản nhất định tuy nhiên hai bên đã có hợp đồng cam kết, việc cam kết lập văn bản có chữ ký và người làm chứng thì bên bạn có quyền đòi lại lợi ích như hai bên đã thỏa thuận.

Cũng theo quy định tại   Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi 2011   quy định

“Điều 161. Quyền khởi kiện vụ án

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Như vậy, khi nhận thấy quyền và lợi ích của mình vị xâm phạm thì bạn có quyền khởi kiện để đòi lại quyền lợi cho mình.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo