Tranh chấp hợp đồng vay tiền
Bạn đang xem bài viết: Tranh chấp hợp đồng vay tiền
24/04/2017 09:37:21 Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia

Tranh chấp hợp đồng vay tiền

Tranh chấp hợp đồng vay tiền. Nghĩa vụ đóng tiền án phí dân sự sơ thẩm.


Tóm tắt câu hỏi:

Chào Luật sư. Gia đình tôi gặp phải trường hợp sau rất mong Luật sư giải đáp thắc mắc. Anh trai tôi vay ông A 1 khoản nợ 25.000.000 đồng vào năm 2013. Hai bên làm giấy thỏa thuận tay 1 bản do ông A giữ trong đó có ghi thời gian phải trả nợ là 2 năm tính theo năm âm lịch, số tiền vay và thông tin cá nhân bên vay và bên mượn. Nhưng 2 bên thỏa thuận miệng mức lãi suất 30%/năm, mức lãi suất này không ghi trong biên bản thỏa thuận. Hiện nay ông A đã mất, quyền đòi khoản tiền vay do vợ ông A và con gái thực hiện. Anh trai tôi không trả được nợ đúng thời hạn đến năm 2016 trả được 4 triệu và tháng 4/2017 trả được 10 triệu, nhưng tại thời điểm trả 10 triệu vợ và con gái ông A yêu cầu anh trai tôi viết giấy cam kết 1 bản do bà B giữ với nội dung nếu đến tháng 11/2017 không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ sẽ siết đất của anh tôi và bà nói mức lãi suất là 40%/năm chứ không phải 30%/năm. Lần đi vay tiền có cô ruột của anh tôi làm chứng, 2 lần trả nợ sau có em trai ruột của anh tôi làm chứng nhưng lại không có giấy tờ bằng chứng gì làm chứng anh tôi đã trả được 14 triệu. Vậy tôi muốn hỏi luật sư là:

1. Nếu kiện ra tòa án, yêu cầu áp dụng mức lãi suất ngân hàng thì có được không, khả năng thắng kiện bao nhiêu? Anh tôi không có giấy tờ bằng chứng gì trong tay ngoài 2 người làm chứng.

2. Ttrong trường hợp này tính mức lãi suất ngân hàng theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 hay Bộ luật dân sự 2015. Trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 không cấm em ruột, cô ruột là người làm chứng nên trong trường hợp trên em ruột và cô ruột được làm chứng nếu được tòa án chấp nhận đúng không?

3. Những bất lợi của anh trai tôi nếu khởi kiện ra tòa, những rủi do có thể xảy ra. Anh tôi là hộ nghèo thì có được miễn giảm án phí không?

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

1. Áp dụng lãi suất:

Theo như bạn trình bày, năm 2013 anh trai bạn có vay tiền của ông A, như vậy sẽ áp dụng theo quy định Bộ luật dân sự 2005.

Căn cứ Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 quy định lãi suất như sau:

“Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Hiện nay, mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN là 9%/năm, như vậy các bên trong hợp đồng vay có quyền thỏa thuận mức lãi suất với nhau nhưng không được vượt quá 13,5%/năm, tức 1,125%/tháng. Như vậy, đối với hợp đồng vay tiền mà anh trai bạn vay vào năm 2013 thỏa thuận miệng với mức lãi suất 30%/năm là vượt quá mức lãi suất cho phép theo quy định, nếu xảy ra tranh chấp về mức lãi suất thì sẽ áp dụng lãi suất là 13,5%/năm.

2. Tính mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 hay Bộ luật dân sự 2015?

Theo thông tin bạn cung cấp, hợp đồng vay tiền được giao kết vào năm 2013, nên trong trường hợp này, văn bản pháp luật được áp dụng là Bộ luật Dân sự 2005.

Đối với việc tháng 4/2017, con gái ông A yêu cầu anh bạn viết một giấy cam kết với nội dung đến tháng 11/2017 nếu không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ sẽ siết đất của anh bạn và mức lãi suất là 40%/năm chứ không phải 30%/năm; trong trường hợp này, quyền khởi kiện của ông A chuyển giao cho con gái và vợ do ông A mất thì hai bên tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận vay ban đầu, con gái và vợ ông A chỉ có quyền thực hiện đúng quy định trong hợp đồng vay tiền ban đầu; việc con gái và vợ ông A tự ý thỏa thuận buộc anh trai bạn phải trả tiền với mức lãi suất là 40%/năm là không có căn cứ.\

Điều 77 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về Người làm chứng như sau: "Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng."

tranh-chap-hop-dong-vay-tien

>>> Lut sư tư vn pháp lut trc tuyến qua tng đài: 1900.6568

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 không cấm em ruột, cô ruột là người làm chứng tuy nhiên, người làm chứng phải là người thứ ba, không liên quan đến cả hai bên trong hợp đồng vay tiền. Do đó, em ruột, cô ruột của anh trai bạn có thể đứng ra làm chứng được tuy nhiên sẽ không đảm bảo tính khách quan.

3. Án phí khi khởi kiện.

Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH, ai là người khởi kiện (nguyên đơn) sẽ là người đóng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Sau khi giải quyết vụ việc, ai là người thua sẽ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Do đó, nếu anh bạn là người thua (yêu cầu của anh bạn không được Tòa án chấp nhận) thì anh bạn có nghĩa vụ đóng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH quy định miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí tòa án, lệ phí tòa án như sau:

"Điều 12. Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

1. Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

a) Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

b) Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

c) Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

d) Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

đ) Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.

2. Những trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này được miễn các khoản tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết này.

3. Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp."

Theo quy định trên, nếu anh bạn thuộc hộ nghèo thì anh bạn sẽ được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và  tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bài viết tư vấn pháp luật dân sự trên được chúng tôi thực hiện theo yêu cầu được gửi bởi các quý khách hàng - người truy cập! Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư để giải quyết hoặc làm việc với bên thứ 3. Để được tư vấn luật dân sự trực tuyến miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 88)

Chuyên viên tư vấn: Lê Thị Trinh

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn