Trong thực tế giải quyết các quan hệ thừa kế, nhiều người cho rằng mất tích đồng nghĩa với việc đã chết về mặt pháp lý, trong khi quy định của pháp luật dân sự lại có cách tiếp cận khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người vắng mặt. Vậy, người mất tích có được hưởng di sản thừa kế không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Người mất tích có được hưởng di sản thừa kế không?
Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tuyên bố mất tích như sau:
- Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích;
- Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng;
- Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;
- Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Và khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Đối chiếu với quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Theo các quy định nêu trên, người bị Tòa án tuyên bố mất tích vẫn được coi là còn sống về mặt pháp lý cho đến khi có quyết định khác của Tòa án tuyên bố người đó đã chết, và việc tuyên bố chết chỉ được xem xét sau thời hạn nhất định kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực. Điều này đồng nghĩa với việc tình trạng “mất tích” không làm chấm dứt tư cách chủ thể pháp lý của cá nhân.
Như vậy: Trong thời gian chưa bị tuyên bố đã chết, người bị Tòa án tuyên bố mất tích vẫn được xác định là người còn sống và vẫn ĐƯỢC quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Quyền thừa kế của họ không bị mất đi, mà chỉ có thể được quản lý hoặc bảo vệ thông qua cơ chế đại diện theo quy định cho đến khi người này trở về hoặc có quyết định pháp lý khác của Tòa án.
2. Di sản thừa kế của người bị mất tích được quản lý như nào?
Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích như sau:
- Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Và Điều 65 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về vấn đề quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:
- Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;
- Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
- Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.
Ngoài ra, trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Dân sự 2015 thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Như vậy: Di sản thừa kế của người bị mất tích sẽ được giao cho người thân thích hoặc người quản lý tài sản do Tòa án chỉ định. Việc quản lý này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người mất tích, đồng thời tránh thất thoát hoặc xâm phạm tài sản trong thời gian người đó chưa trở về hoặc chưa có quyết định pháp lý khác của Tòa án.
3. Trường hợp người mất tích trở về, nhận lại di sản thừa kế như thế nào?
Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về vấn đề hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích:
- Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó;
- Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý;
- Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;
- Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Như vậy: Khi người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc có căn cứ xác định người đó còn sống, họ có quyền nhận lại phần di sản thừa kế mà mình được hưởng từ cha mẹ theo quy định pháp luật. Trong thời gian người mất tích vắng mặt, phần tài sản thừa kế này thường được giao cho người thân thích hoặc người quản lý tài sản theo quyết định của Tòa án nhằm bảo đảm việc quản lý, bảo toàn và tránh thất thoát tài sản (mục 2).
Và khi người mất tích quay trở lại, người quản lý tài sản có nghĩa vụ bàn giao lại toàn bộ tài sản đã được giao quản lý; trong đó bao gồm cả tài sản gốc và các hoa lợi, lợi tức phát sinh (nếu có), trừ đi các khoản chi phí hợp lý cho việc quản lý, bảo quản tài sản theo quy định pháp luật.
Quy định này nhằm cân bằng quyền lợi giữa người mất tích và người quản lý tài sản, bảo đảm quyền sở hữu của người thừa kế không bị ảnh hưởng trong thời gian vắng mặt, đồng thời ghi nhận trách nhiệm quản lý tài sản một cách minh bạch. Tuy nhiên trong thực tiễn, việc xác định chi phí quản lý hợp lý hoặc tình trạng tài sản sau thời gian dài vắng mặt thường là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp cần được giải quyết theo trình tự pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


