Phân chia di sản thừa kế là công việc thường được thực hiện sau khi người để lại di sản thừa kế chết. Trong thực tiễn đời sống, không ít trường hợp sau khi người thân qua đời, việc phân chia di sản không được thực hiện ngay mà kéo dài qua nhiều năm. Vậy chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế được thực hiện như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế:
Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu thừa kế. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Và thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Vậy: Khi hết thời hiệu phân chia di sản thừa kế thì di sản thừa kế sẽ được phân chia như thế nào?
(1) Di sản thuộc về người đang quản lý:
Tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã nêu rõ về cách phân chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu được yêu cầu khởi kiện phân chia di sản thừa kế. Và cũng theo quy định này, khi hết thời hiệu được quy định thì sản sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
Chẳng hạn: Ông A có 03 người con là B, C, D và khi chết ông không để lại di chúc nhưng để lại di sản thừa kế là mảnh đất và ngôi nhà trên đất – ký hiệu L (bất động sản), thời điểm mở thừa kế là thời điểm ông A chết từ năm 1990. Đến nay là năm 2023, đã hơn 30 năm kể từ ngày mở thừa kế không có yêu cầu phân chia di sản thừa kế của những người thừa kế và những người thừa kế cũng không làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Đến nay mảnh đất là di sản thừa kế đó được phân chia cho anh B, là người con cả của ông A và cũng là người thừa kế của ông A theo pháp luật. Hiện nay anh là người đã ở trên mảnh đất đó lâu dài, đóng góp công sức quản lý mảnh đất đó lâu dài từ trước khi ông A mất.
(2) Di sản thuộc về người đang chiếm hữu hoặc Nhà nước:
Trong trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thừa kế đó được giải quyết phân chia như thế nào? Tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã hướng dẫn rõ điều này. Khi không có người thừa kế đang quản lý di sản thừa kế thì việc phân chia di sản thừa kế được giải quyết như sau:
Trong trường hợp di sản này đang có người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đó. Người chiến hữu, người được lợi về tài sản khi không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục được xác định là người đã chiếm hữu động sản trong thời hạn 10 năm và bất động sản trong thời hạn 30 năm thì sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản đó. Thời hạn này được xác định kể từ thời điểm người đó bắt đầu chiếm hữu.
Trong trường hợp không có người thừa kế quản lý di sản hoặc không có người chiếm hữu di sản thừa kế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản thừa kế đó thuộc về Nhà nước. Theo đó, di sản này sẽ trở thành tài sản công của Nhà nước.
2. Nộp đơn chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, Tòa án xử lý thế nào?
Theo hướng dẫn tại Công văn số 1083/VKSTC-V9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp vướng mắc trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, cơ quan này đã làm rõ một số vấn đề thực tiễn liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thừa kế trong trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện. Nội dung hướng dẫn này được ban hành nhằm thống nhất nhận thức và cách áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án.
Cụ thể, Công văn đã đưa ra quan điểm giải đáp đối với trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế khi thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết, qua đó định hướng cách xác định quan hệ pháp luật và phương thức giải quyết tranh chấp trong thực tiễn xét xử. Những nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong các tranh chấp về di sản thừa kế:
“Theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS năm 2015: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Quy định trên có áp dụng đối với tranh chấp về thừa kế tài sản không? (VKS Sơn La) – Khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 quy định: Hết thời hiệu khởi kiện 30 năm thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Vậy khi nguyên đơn khởi kiện mà thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án có thụ lý giải quyết vụ án chia thừa kế không? (VKS Thanh Hóa)
Trả lời:
Quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS được áp dụng đối với tất cả các vụ án.
Khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế mà không có bên nào yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung, cho dù Toà án biết rõ thời hiệu khởi kiện đã hết. Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS mà Tòa án xét thấy thời hiệu khởi kiện đã hết thì đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trường hợp các đương sự có yêu cầu Tòa án xác định người được hưởng di sản thì Toà án căn cứ khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 để xác định di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
Ví dụ: Ông A chết ngày 01/01/1990, để lại di sản là thửa đất có diện tích 100m2 do con trai út đang quản lý, sử dụng. Ngày 01/01/2022, người con trai cả yêu cầu chia di sản thừa kế của ông A là QSD thửa đất trên. Trường hợp này, thời hiệu khởi kiện đã hết (ngày 10/9/2020 hết thời hiệu khởi kiện) nhưng không có ai yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS thì Toà án đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trường hợp có đương sự yêu cầu Tòa án xác định người được hưởng di sản thì Tòa án xác định thửa đất trên thuộc về người con trai út.”
Theo đó, trong trường hợp vụ án yêu cầu chia di sản thừa kế được khởi kiện khi thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết, nếu nguyên đơn vẫn nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia di sản thì Tòa án vẫn phải thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường.
Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu để từ chối thụ lý hoặc đình chỉ vụ án. Chỉ khi một trong các đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và sau khi xem xét thấy rằng thời hiệu khởi kiện thực sự đã hết thì Tòa án mới ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Quy định này thể hiện nguyên tắc trong tố tụng dân sự rằng thời hiệu khởi kiện chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của đương sự, qua đó bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp.
3. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong trường hợp nào?
Mục 2.4 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế như sau:
(1) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
- Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc;
- Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thỏa thuận của họ;
- Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
(2) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo Ủy quyền… thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.
Không phải mọi trường hợp liên quan đến di sản thừa kế đều bị ràng buộc bởi thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Trong những trường hợp các đồng thừa kế không phát sinh tranh chấp trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, cùng thừa nhận di sản chưa được chia hoặc thống nhất xác nhận tư cách đồng thừa kế thì phần di sản của người chết để lại được xác định là tài sản chung của những người thừa kế. Khi đó, nếu phát sinh tranh chấp, Tòa án sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế mà giải quyết theo các quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
Bên cạnh đó, trong trường hợp di sản đang do người khác chiếm hữu, quản lý hoặc sử dụng trái pháp luật, các thừa kế vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu đòi lại di sản để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà không bị hạn chế bởi thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.
Như vậy, việc xác định có hay không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng quản lý di sản, sự thừa nhận giữa các đồng thừa kế và bản chất của tranh chấp phát sinh. Do đó, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến di sản của người đã chết, các bên cần xem xét đầy đủ các yếu tố pháp lý liên quan để lựa chọn cơ chế yêu cầu Tòa án giải quyết phù hợp cũng như bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


