Đất đai không chỉ là tài sản có giá trị kinh tế mà với nhiều gia đình Việt còn gắn liền với cội nguồn, tổ tiên và truyền thống thờ tự. Khi lập di chúc để lại đất làm từ đường, không ít người mong muốn giữ gìn lâu dài nên đặt ra điều kiện “cấm con cháu bán”. Vậy: Di chúc đất làm từ đường, cấm con cháu bán được không?
Mục lục bài viết
1. Có được lập di chúc để lại đất làm từ đường không?
Nhà từ đường (nhà thờ họ) là công trình mang đậm giá trị tâm linh và truyền thống, được xây dựng để làm nơi thờ phụng tổ tiên của cả một dòng họ hoặc từng chi họ theo phụ hệ – tức dòng huyết thống bên cha. Không chỉ là không gian thờ cúng, nhà thờ họ còn là biểu tượng của cội nguồn, sự gắn kết và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Trong đời sống văn hóa người Việt, nhà thờ họ xuất hiện phổ biến và bền vững, đặc biệt tại khu vực Trung Bộ, đồng bằng và trung du Bắc Bộ – nơi truyền thống dòng họ và lễ nghi gia tộc được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Hiện nay, Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng… Cụ thể, người lập di chúc có quyền sau đây:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Như vậy, người lập di chúc hoàn toàn CÓ THỂ để lại di chúc để lại đất làm nhà từ đường sau khi qua đời.
2. Di chúc đất làm từ đường có cấm con cháu bán được không?
Theo quy định của pháp luật dân sự hiện nay, người có tài sản hợp pháp có quyền định đoạt đối với tài sản của mình, trong đó bao gồm quyền lập di chúc để quyết định việc chuyển giao tài sản cho người khác sau khi chết (Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015). Đối với quyền sử dụng đất, nếu người để lại di sản là người đứng tên hợp pháp trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không thuộc diện tranh chấp, kê biên, hạn chế giao dịch thì họ hoàn toàn có quyền đưa thửa đất đó vào di chúc.
Trong thực tiễn, nhiều người lựa chọn để lại đất làm từ đường cho con cháu với mong muốn giữ gìn nơi thờ tự tổ tiên lâu dài và không bị chia tách, chuyển nhượng. Từ đó, trong nội dung di chúc thường xuất hiện các điều khoản như: “Chỉ được dùng đất vào việc thờ cúng, cấm bán, cấm chuyển nhượng, cấm thế chấp hoặc giao cho một người đại diện dòng họ quản lý…”.
Về nguyên tắc, ý chí của người lập di chúc phải được tôn trọng miễn là ý chí đó không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, quyền định đoạt của người lập di chúc không phải là quyền tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các quy định bắt buộc của pháp luật.
Trong trường hợp di chúc xác định rõ nhà, đất là di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản này không được điều chỉnh theo cơ chế thừa kế thông thường mà chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật mang tính đặc thù về “di sản thờ cúng”. Theo đó, quyền định đoạt đối với nhà, đất thờ cúng bị giới hạn nhằm bảo đảm mục đích tâm linh và ý chí của người để lại di sản. Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về di sản dùng vào việc thờ cúng như sau:
- Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng;
- Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng;
- Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật;
- Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
Như vậy: Khi di chúc ghi nhận rõ đất được dùng vào việc thờ cúng (như nhà thờ tổ, từ đường của dòng họ…) thì phần di sản này không được chia cho các đồng thừa kế mà được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý với tư cách người trông coi, gìn giữ mà không phải là chủ sở hữu theo nghĩa đầy đủ.
Người được giao quản lý không có quyền định đoạt tài sản theo ý chí cá nhân; trong đó bao gồm cả việc chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn hay sử dụng vào mục đích khác ngoài thờ cúng… Quyền của người này chỉ giới hạn trong phạm vi quản lý, bảo quản và sử dụng tài sản đúng với mục đích thờ cúng mà người lập di chúc đã xác định.
Hay nói cách khác, khi lập di chúc để lại tài sản làm nhà từ đường, người lập di chúc CÓ QUYỀN nêu rõ yêu cầu/nguyện vọng về việc không được bán tài sản, ngoại trừ trường hợp người để lại di chúc chết nhưng toàn bộ di sản thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản thì phần đất thờ cúng đó vẫn có thể bán (Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015).
Ví dụ: Ông H lập di chúc để lại căn nhà 3 tầng cho con trai cả là T .Trong di chúc có ghi rõ: “Căn nhà này là nhà thờ tổ của dòng họ, chỉ được sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên và không được chuyển nhượng dưới bất kỳ hình thức nào.” Sau khi ông H qua đời, căn nhà được giao cho T quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Trong trường hợp này, T không có quyền bán, tặng cho hoặc thế chấp căn nhà mà chỉ có trách nhiệm quản lý và sử dụng đúng mục đích thờ cúng theo nội dung di chúc.
3. Con cháu có được chuyển nhượng, thế chấp đất làm từ đường không?
Đất từ đường là đất dùng để xây dựng nhà từ đường, là nơi mang ý nghĩa tâm linh dùng để thờ phụng, cúng bái tổ tiên… vào những dịp giỗ, chạp, lễ, tết… Đất từ đường sẽ là thuộc sở hữu chung của cộng đồng, dòng họ và thuộc loại tài sản chung hợp nhất không phân chia. Khi xây dựng nhà từ đường phải được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên nhà từ đường được pháp luật về đất đai bảo vệ.
Trong trường hợp di chúc để lại là di chúc hợp pháp, nêu rõ tài sản được sử dụng làm từ đường thì phần đất này được xem là di sản dùng vào việc thờ cúng. Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng.
Như vậy, đất được để lại để làm nhà từ đường KHÔNG được phép phân chia mà chỉ được dùng vào mục đích duy nhất là thờ cúng. Trong trường hợp nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc, không theo thỏa thuận của những người thừa kế còn lại thì những người thừa kế còn lại có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Nếu trong di chúc không chỉ định rõ ai là người quản lý di sản thì những người thừa kế sẽ thỏa thuận cử một người quản lý di sản thờ cúng đó.
Tuy nhiên, cũng có quy định rằng trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Hay nói cách khác, trường hợp này người để lại di chúc phải thanh toán nghĩa vụ mà tài sản còn lại không đủ thì phần đất để lại làm di sản thờ cúng kia sẽ không được thực hiện theo di chúc mà sẽ thực hiện việc thanh toán nghĩa vụ tài sản.
Như vậy: Đất từ đường là loại đất mang ý nghĩa tâm linh, là tài sản chung của cộng đồng, dòng họ, việc quản lý, sử dụng, định đoạt phải tuân theo thỏa thuận của cả dòng họ. Con cháu chỉ được kế thừa lại nghĩa vụ của cha mẹ về việc quản lý nhà từ đường và sử dụng vào mục đích thờ cúng, giỗ chạp… mà KHÔNG được phép bán.
4. Lưu ý khi lập di chúc đất làm từ đường để tránh tranh chấp:
Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế cho thấy, đa số mâu thuẫn liên quan đến đất làm từ đường xuất phát từ việc lập di chúc lập thiếu chặt chẽ, không lường trước các tình huống phát sinh. Vì vậy, khi lập di chúc đối với đất làm từ đường, người để lại di sản cần đặc biệt lưu ý các kinh nghiệm sau.
4.1. Ghi rõ mục đích sử dụng đất làm từ đường trong di chúc:
Sai lầm phổ biến nhất là chỉ ghi chung chung: “Để lại đất cho con cháu làm từ đường” hoặc “đất thờ cúng tổ tiên” mà không xác định rõ bản chất pháp lý của thửa đất. Cách ghi này rất dễ dẫn đến tranh chấp về sau, nhất là khi có người cho rằng đất vẫn là di sản chia thừa kế thông thường. Kinh nghiệm quan trọng là trong di chúc cần:
- Xác định rõ đây là di sản dùng vào việc thờ cúng hay là đất giao cho một cá nhân quản lý;
- Mô tả cụ thể mục đích sử dụng đất: xây dựng, duy trì từ đường, nhà thờ họ, nơi thờ cúng tổ tiên;
- Khẳng định rõ không đưa phần đất này vào khối di sản chia thừa kế (nếu đó là ý chí của người lập di chúc).
Việc ghi nhận rõ ràng ngay từ đầu sẽ giúp Tòa án và các bên liên quan hiểu đúng ý chí của người để lại di sản, tránh việc diễn giải theo nhiều cách khác nhau.
4.2. Nên giao cho ai quản lý đất làm từ đường?
Một vấn đề dễ phát sinh mâu thuẫn là ai có quyền quản lý, trông coi đất từ đường. Nếu di chúc không chỉ định rõ, các con cháu có thể tranh chấp quyền quản lý, dẫn đến mâu thuẫn kéo dài; thậm chí làm mất ý nghĩa thờ cúng ban đầu. Khi lập di chúc, người lập di chúc nên:
- Chỉ định một người cụ thể hoặc một nhóm người đại diện dòng họ quản lý đất làm từ đường;
- Ghi rõ quyền và nghĩa vụ của người quản lý, bao gồm: trông coi, bảo quản, sử dụng đúng mục đích, không tự ý chuyển nhượng;
- Dự liệu trường hợp người quản lý qua đời, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không còn phù hợp thì ai là người thay thế…
Cách làm này góp phần bảo đảm đất từ đường được duy trì ổn định và sử dụng đúng với mong muốn của người lập di chúc.
4.3. Có nên lập văn bản thỏa thuận của dòng họ kèm theo di chúc?
Trong thực tế, đối với những dòng họ đông người, có nhiều thế hệ cùng liên quan đến đất từ đường, việc chỉ dựa vào di chúc đôi khi chưa đủ để bảo đảm sự đồng thuận lâu dài. Khi đó, việc lập văn bản thỏa thuận của dòng họ là một giải pháp rất đáng cân nhắc. Văn bản thỏa thuận của dòng họ có thể ghi nhận:
- Sự thống nhất của các thành viên về việc sử dụng đất làm từ đường;
- Nguyên tắc quản lý, sửa chữa, đóng góp chi phí duy trì từ đường;
- Quan điểm chung về việc không chuyển nhượng, không chia tách đất thờ cúng; ngoại trừ trường hợp đặc biệt được toàn thể dòng họ chấp thuận.
Văn bản này được lập trên cơ sở tự nguyện, rõ ràng và phù hợp pháp luật thì sẽ trở thành cơ sở quan trọng để hạn chế tranh chấp, đồng thời củng cố giá trị thực tế của di chúc trong quá trình thực hiện.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


