Trong quan niệm truyền thống, nhiều người vẫn cho rằng khi con gái đã đi lấy chồng thì không còn quyền hưởng tài sản của bố mẹ đẻ hoặc quyền thừa kế sẽ bị hạn chế so với con trai trong gia đình. Tuy nhiên, quyền thừa kế không còn phụ thuộc vào giới tính hay tình trạng hôn nhân. Vậy, con gái đã đi lấy chồng được thừa kế của bố mẹ đẻ không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Con gái đã đi lấy chồng được thừa kế của bố mẹ đẻ không?
Trong thực tế đời sống, vẫn còn tồn tại quan niệm cho rằng “Con gái sau khi kết hôn sẽ không còn quyền hưởng tài sản của bố mẹ đẻ hoặc quyền thừa kế bị hạn chế so với con trai”. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, quyền thừa kế của cá nhân được xác lập dựa trên nguyên tắc bình đẳng và không phụ thuộc vào giới tính, tình trạng hôn nhân hay việc đã lập gia đình riêng. Do đó, việc con gái đã đi lấy chồng hoàn toàn không làm mất hoặc hạn chế quyền hưởng di sản thừa kế từ bố mẹ đẻ nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.
Điều 610 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Theo đó, mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản cho người khác thông qua di chúc hoặc được hưởng di sản theo quy định pháp luật mà không phân biệt giới tính, độ tuổi hay tình trạng hôn nhân. Nguyên tắc này phản ánh sự thay đổi quan trọng so với quan niệm truyền thống trước đây, khi việc phân chia tài sản trong gia đình đôi khi bị chi phối bởi yếu tố giới tính. Pháp luật hiện hành không công nhận bất kỳ sự phân biệt nào giữa con trai và con gái trong việc xác định quyền hưởng di sản. Vì vậy, dù con gái đã kết hôn và sinh sống tại gia đình riêng thì vẫn có quyền ngang bằng với các anh chị em khác trong việc nhận thừa kế từ bố mẹ đẻ. Cụ thể như sau:
1.1. Trường hợp bố mẹ đẻ để lại di chúc:
a. Di chúc để lại tài sản cho con gái và có hiệu lực:
Nếu cha mẹ đẻ để lại di chúc và bản di chúc đó có hiệu lực pháp luật (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015),nội dung của di chúc để lại tài sản cho con gái thì người con đó sẽ ĐƯỢC hưởng di sản theo di chúc (kể cả trong trường hợp đã đi lấy chồng hay chưa).
Hay nói cách khác, pháp luật tôn trọng quyền định đoạt tài sản của cá nhân, vì vậy người lập di chúc có quyền lựa chọn người thừa kế và tỷ lệ phân chia di sản theo mong muốn của mình. Điều này đồng nghĩa với việc con gái hoàn toàn có thể được hưởng di sản dù đã kết hôn, miễn là được chỉ định trong di chúc hợp pháp.
b. Di chúc không để lại tài sản cho con gái và có hiệu lực:
Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, nững người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Pháp luật dân sự còn quy định về một số chủ thể đặc biệt được hưởng di sản thừa kế dù nội dung di chúc không đề cập hoặc có nội dung hạn chế quyền hưởng. Đây được gọi là trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Nếu con gái đã đi lấy chồng nhưng thuộc trường hợp “bị mất khả năng lao động” thì vẫn có thể ĐƯỢC hưởng một phần di sản nhất định theo quy định pháp luật, ngay cả khi di chúc không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn mức tối thiểu. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi của những người yếu thế và tránh tình trạng bị tước đoạt quyền lợi một cách không hợp lý.
c. Trường hợp có di chúc nhưng di chúc vô hiệu:
Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Bố mẹ có để lại di chúc nhưng di chúc vô hiệu thì khối di sản để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật (mục 1.2). Và con gái (kể cả trong trường hợp đã lấy chồng) vẫn là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ đẻ. Vì vậy, con gái đã đi lấy chồng ĐƯỢC hưởng một phần thừa kế của bố mẹ trong trường hợp này.
1.2. Trường hợp bố mẹ đẻ không để lại di chúc:
Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi người để lại di sản chết mà không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không định đoạt toàn bộ di sản. Trong trường hợp này, việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo hàng thừa kế do pháp luật quy định.
Theo nguyên tắc thừa kế theo pháp luật, con cái của người chết (bao gồm cả con trai và con gái, dù đã lập gia đình hay chưa) đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với vợ/chồng và cha mẹ của người để lại di sản. Điều này có nghĩa là con gái đã kết hôn vẫn ĐƯỢC hưởng phần di sản ngang bằng với các anh chị em khác trong cùng hàng thừa kế nếu không có căn cứ loại trừ quyền thừa kế.
Như vậy: Pháp luật dân sự không đặt ra bất kỳ điều kiện nào liên quan đến việc đã kết hôn hay chưa khi xác định quyền thừa kế. Nói cách khác, việc con gái đã lấy chồng không làm thay đổi địa vị pháp lý của người đó trong quan hệ thừa kế với bố mẹ đẻ.
Ngay cả khi người con gái đã đăng ký kết hôn, chuyển hộ khẩu hoặc sinh sống lâu dài ở nơi khác thì quyền thừa kế vẫn được xác định dựa trên quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng hợp pháp. Điều này có nghĩa là khi bố mẹ qua đời, người con gái vẫn có quyền hưởng di sản nếu thuộc hàng thừa kế theo pháp luật hoặc được chỉ định trong di chúc.
2. Khi nào con gái đã lấy chồng không được hưởng di sản thừa kế?
Mặc dù pháp luật bảo đảm nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế giữa con trai và con gái, nhưng trong một số trường hợp nhất định, người con gái đã kết hôn có thể không được hưởng di sản thừa kế từ bố mẹ đẻ. Việc không được hưởng thừa kế không xuất phát từ việc đã đi lấy chồng mà dựa trên các căn cứ pháp lý cụ thể được quy định trong Bộ luật Dân sự. Việc hiểu rõ các trường hợp này giúp tránh nhầm lẫn phổ biến trong thực tế và bảo vệ đúng quyền lợi của các bên liên quan.
2.1. Bị truất quyền thừa kế theo di chúc hợp pháp:
Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, người lập di chúc có quyền sau đây:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Trong trường hợp người để lại di sản có lập di chúc hợp pháp và trong nội dung di chúc thể hiện rõ việc không cho một người con hưởng di sản thì người con đó có thể không được hưởng thừa kế. Pháp luật tôn trọng quyền định đoạt tài sản của cá nhân, vì vậy người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của bất kỳ người thừa kế nào; bao gồm cả con gái, nếu việc truất quyền được thể hiện rõ ràng và di chúc đáp ứng đầy đủ điều kiện về tính hợp pháp.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc truất quyền thừa kế chỉ có hiệu lực khi di chúc hợp pháp về cả hình thức và nội dung. Nếu di chúc bị tuyên vô hiệu thì việc phân chia di sản có thể quay trở lại theo quy định về thừa kế theo pháp luật, khi đó con gái vẫn có quyền hưởng phần di sản tương ứng.
Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, người con gái vẫn có thể được hưởng phần di sản nhất định nếu thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc theo quy định pháp luật (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015).
2.2. Không được quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật:
Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Nếu người con gái thuộc một trong các trường hợp này thì có thể bị coi là người không có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật, bất kể việc đã kết hôn hay chưa. Đây là cơ chế nhằm bảo vệ trật tự đạo đức xã hội và bảo đảm sự công bằng trong quan hệ thừa kế.
Tuy nhiên trong thực tiễn, việc xác định các hành vi này cần dựa trên chứng cứ cụ thể và thường phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận (chẳng hạn thông qua bản án hoặc quyết định của Tòa án…).
2.3. Từ chối nhận di sản thừa kế:
Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác;
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết;
- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Pháp luật cho phép người thừa kế từ chối quyền hưởng di sản nếu việc từ chối được thực hiện đúng trình tự, thời hạn và không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác.
Việc từ chối nhận di sản thường được lập thành văn bản và phải thể hiện rõ ý chí của người thừa kế. Sau khi từ chối hợp lệ, phần di sản sẽ được chia lại cho các người thừa kế khác theo quy định pháp luật hoặc theo nội dung di chúc.
Và nếu không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.
3. Con gái đã đi lấy chồng nhận thừa kế của bố mẹ đẻ là tài sản chung hay riêng?
Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì tài sản riêng của vợ chồng bao gồm:
- Tài sản vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn;
- Tài sản vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản vợ hoặc chồng được chia riêng từ tài sản chung;
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng;
- Tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ chồng;
- Tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật gồm:
+ Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ;
+ Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
+ Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
Và để xác định tài sản thừa kế là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, cần xem xét việc vợ chồng có cùng được nhận thừa kế hay không, cũng như căn cứ vào hình thức thừa kế và ý chí của người để lại di sản. Việc phân định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu, quyền định đoạt tài sản và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân hoặc thừa kế.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, có 02 hình thức thừa kế tài sản gồm:
- Thừa kế theo di chúc;
- Và thừa kế theo pháp luật.
Mỗi hình thức có cách xác định tính chất tài sản khác nhau.
(1) Đối với thừa kế theo di chúc: Người để lại di sản có quyền quyết định ai là người được hưởng thừa kế và thể hiện rõ trong nội dung di chúc. Khi đó có thể xảy ra 02 trường hợp:
- Nếu người lập di chúc chỉ định cả hai vợ chồng cùng là người thừa kế thì sau khi người để lại di sản chết, phần tài sản này sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bởi cả hai cùng được nhận thừa kế theo ý chí của người lập di chúc;
- Nếu di chúc chỉ định riêng vợ hoặc chồng là người thừa kế thì tài sản được nhận sẽ là tài sản riêng của người đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
(2) Đối với thừa kế theo pháp luật: Việc phân chia di sản được thực hiện theo hàng thừa kế do pháp luật quy định. Trong trường hợp chỉ một người trong quan hệ vợ chồng thuộc hàng thừa kế và được nhận di sản thì phần tài sản này về nguyên tắc được xác định là tài sản riêng của người đó, dù việc nhận thừa kế xảy ra trong thời kỳ hôn nhân.
Như vậy, để xác định tài sản thừa kế là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng cần căn cứ vào việc tài sản được nhận thừa kế chung hay riêng, đặc biệt là nội dung di chúc (nếu có) và tư cách người thừa kế trong từng trường hợp cụ thể. Việc xác định đúng tính chất tài sản ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế tranh chấp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


