Khi xây dựng các quy định về kiện đòi lại tài sản các nhà làm luật không tuyệt đối hóa hoàn toàn quyền được kiện đòi lại tài sản của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp.
Thứ nhất, tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu, người thứ 3 chiếm hữu ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản.
Điều 257 BLDS năm 2005 khi quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng kí của chủ sở hữu đã đưa ra một trường hợp ngoại lệ mà chủ sở hữu không có quyền kiện đòi lại tài sản. Đó là: Tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu, người thứ 3 chiếm hữu ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản.
Nghĩa là chủ sở hữu chuyển giao chuyển giao tài sản cho người chiếm hữu hợp pháp thông qua hợp đồng cho thuê, mượn, cầm cố, đặt cọc…Sau đó người này lại chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba thông qua hợp đồng có đền bù như
Người chưa được coi là ngay tình khi không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Nếu người thứ ba chiếm hữu mà không ngay tình thì chủ sở hữu vẫn được quyền kiện đòi lại tài sản.
Thứ hai, tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản mà người chiếm hữu nhận được thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
Điều 258 BLDS năm 2005 về quyền đòi lại động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình đã đưa ra hai trường hợp ngoại lệ mà chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản.
Thứ nhất, người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông qua bán đấu giá; người mua được tài sản bán đấu giá từ một cuộc bán đấu giá do Trung tâm bán đấu giá tài sản, Tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản (gọi chung là tổ chức bán đấu giá) thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định 17/2010/NĐ-CP của Chính Phủ về bán đấu giá tài sản mà không biết và không thể biết được về nguồn gốc, tình trạng pháp lý của tài sản bán đấu giá thì người mua được coi là chiếm hữu ngay tình. Chủ sở hữu không được kiện đòi tài sản từ người chiếm hữu ngay tình.
Thứ hai, theo quy định của BLTTDS năm 2004, bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa trong những trường hợp sau đây:
(1) Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Toà án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp: 1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS; 2. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ (Điều 276).
(2) Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án trong các trường hợp: 1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được; 2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng (Điều 277).
(3) Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS (Điều 278).
(4) Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại trong các trường hợp: 1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS; 2. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; 3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng (Điều 299).
(5) Hội đồng giám đốc thẩm quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS (Điều 300).
(6) Hội đồng tái thẩm có quyền: Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại; Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 309).
Điều kiện áp dụng là: a. Người thiết lập giao dịch với nguời là chủ sở hữu tài sản theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải là người chiếm hữu ngay tình. Người này không biết và không thể biết người thiết lập giao dịch với mình không phải là chủ sở hữu tài sản; b. Giao dịch được thiết lập giữa người thứ ba chiếm hữu ngay tình với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản; c. Do bản án, quyền định bị huỷ, sửa nên người thiết lập giao dịch giao dịch với người thứ ba ngay tình không còn là chủ sở hữu tài sản nữa. Thông thường, bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa do vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, trừ những trường hợp huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng dẫn đến người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa.
Thứ ba, tài sản là đối tượng của vụ kiện đã được xác lập quyền sở hữu cho người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng nay tình theo thời hiệu
Thời hiệu có ý nghĩa pháp luật quan trọng trong các quan hệ dân sự. Điều 154 BLDS năm 2005 đã đưa ra định nghĩa:
“Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự.”
Tiếp đó, Điều 247 BLDS năm 2005 cũng quy định về thời hiệu hưởng dân sự mà cụ thể là quyền được xác lập sở hữu đối với một tài sản:
“1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó.”
Quyền được xác lập sở hữu đối với một tài sản khi đáp ứng được những điều kiện nhất định theo Khoản 1 Điều 247. Khi quyền sở hữu của người chiếm hữu đã được xác lập thì cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt quyền sở hữu đối với người có tài sản bị chiếm hữu. Do vậy, đối với trường hợp người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì chủ sở hữu mất quyền kiện đòi lại tài sản. Hay nói cách khác, khi tài sản là đối tượng của vụ kiện đòi lại tài sản đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì chủ sở hữu mất quyền kiện đòi lại tài sản đó.
>>> Luật sư
qua tổng đài: 1900.6568 tư vấn pháp luật trực tuyến
Tuy nhiên, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản chỉ được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì phải thỏa mãn các điều kiện sau: Việc xác lập theo thời hiệu chỉ áp dụng đối với trường hợp người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, tức là chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 183 BLDS; việc chiếm hữu phải là ngay tình; việc chiếm hữu tài sản phải liên tục theo Điều 190 BLDS; việc chiếm hữu tài sản phải công khai; về thời gian, việc chiếm hữu tài sản phải thực hiên trong khoảng thời gian 10 năm kể từ ngày bắt đầu chiếm hữu đối với tài sản là động sản, 30 năm kể từ này chiếm hữu đối với tài sản là bất động sản.