Trong nhiều gia đình, việc nói đến di chúc vẫn còn là điều khá nhạy cảm, thậm chí dễ gây tâm lý e ngại hoặc hiểu lầm giữa các thành viên. Không ít bậc cha mẹ lo lắng rằng việc lập di chúc sớm có thể khiến con cái suy nghĩ tiêu cực, còn con cái thì băn khoăn liệu quyền lợi của mình có được bảo đảm hay không. Vậy: Bố mẹ viết di chúc có cần tham khảo ý kiến các con không?
Mục lục bài viết
- 1 1. Bố mẹ có cần tham khảo ý kiến các con khi viết di chúc không?
- 2 2. Con không có tên trong di chúc của bố mẹ thì có quyền yêu cầu chia thừa kế không?
- 3 3. Bố mẹ viết di chúc thì cần lưu ý điều gì để tránh tranh chấp?
- 3.1 3.1. Bảo đảm đầy đủ điều kiện có hiệu lực của di chúc:
- 3.2 3.2. Xác định rõ phạm vi tài sản được định đoạt trong di chúc:
- 3.3 3.3. Ghi nhận rõ ràng, cụ thể người thừa kế và phần di sản được hưởng:
- 3.4 3.4. Lưu ý quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
- 3.5 3.5. Lựa chọn hình thức di chúc phù hợp, ưu tiên di chúc công chứng:
1. Bố mẹ có cần tham khảo ý kiến các con khi viết di chúc không?
Theo quy định tại Điều 624 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Đồng thời, ĐIều 625 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người lập di chúc:
- Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật Dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Ngoài ra, Điều 626 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ quyền hạn của người lập di chúc. Người lập di chúc có quyền sau đây:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Từ các phân tích trên có thể khẳng định rằng, pháp luật hiện hành hoàn toàn tôn trọng và bảo vệ quyền định đoạt tài sản của cá nhân thông qua di chúc. Dù người lập di chúc đã cao tuổi, già yếu nhưng chỉ cần tại thời điểm lập di chúc vẫn minh mẫn, sáng suốt, làm chủ được hành vi của mình và việc lập di chúc được thực hiện một cách tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép thì di chúc đó vẫn có giá trị pháp lý đầy đủ.
Đối với tài sản riêng của bố hoặc mẹ, người lập di chúc có toàn quyền quyết định việc để lại di sản cho ai, để lại bao nhiêu và theo hình thức nào mà KHÔNG bắt buộc phải hỏi ý kiến hay có sự đồng ý của các con. Việc con cái không đồng thuận hoặc không được hưởng di sản theo mong muốn của mình không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của di chúc, miễn là di chúc được lập đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, trong khuôn khổ pháp luật, bố mẹ hoàn toàn có quyền viết di chúc theo ý chí cá nhân mà không cần tham khảo hay phụ thuộc vào ý kiến của các con. Điều quan trọng nhất là di chúc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, ý chí và hình thức theo quy định; qua đó đảm bảo giá trị pháp lý và hạn chế tối đa các tranh chấp phát sinh sau này.
2. Con không có tên trong di chúc của bố mẹ thì có quyền yêu cầu chia thừa kế không?
Nguyên tắc cốt lõi của thừa kế theo di chúc là tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của người lập di chúc. Theo đó, pháp luật cho phép người lập di chúc toàn quyền quyết định ai là người được hưởng di sản, mức hưởng của từng người cũng như có quyền không để lại di sản cho bất kỳ ai. Quyền này được ghi nhận rõ ràng tại Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, thể hiện sự tôn trọng ý chí cá nhân và quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản.
Tuy nhiên, trên cơ sở đề cao giá trị nhân văn, phù hợp với phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, pháp luật dân sự cũng đặt ra những giới hạn nhất định đối với quyền tự định đoạt này nhằm bảo vệ các chủ thể yếu thế và những người có quan hệ gia đình đặc biệt gần gũi với người để lại di sản. Cụ thể, Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Theo đó:
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó:
- Con chưa thành niên;
- Cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Quy định bảo vệ này không áp dụng đối với trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc thuộc diện không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, các đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được xác định trên cơ sở 03 mối quan hệ nền tảng với người để lại di sản, bao gồm: Quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng.
Việc pháp luật thiết lập cơ chế này nhằm hài hòa giữa quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân và trách nhiệm bảo đảm quyền, lợi ích tối thiểu cho những người thân thích gần gũi; qua đó góp phần hạn chế tranh chấp và giữ gìn sự ổn định trong các quan hệ gia đình và xã hội.
Như vậy: Con không có tên trong di chúc của bố mẹ thuộc một trong những trường hợp sau đây thì vẫn sẽ được hưởng thừa kế:
- Con chưa thành niên;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
3. Bố mẹ viết di chúc thì cần lưu ý điều gì để tránh tranh chấp?
Di chúc là công cụ pháp lý quan trọng để bố mẹ thể hiện ý chí cuối cùng trong việc định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời. Tuy nhiên trên thực tế, không ít vụ tranh chấp thừa kế phát sinh từ những di chúc được lập một cách sơ sài, thiếu chặt chẽ hoặc không tuân thủ đúng quy định pháp luật. Để di chúc thực sự có giá trị pháp lý và được thực hiện đúng ý nguyện, bố mẹ khi lập di chúc cần đặc biệt lưu ý những vấn đề quan trọng sau đây:
3.1. Bảo đảm đầy đủ điều kiện có hiệu lực của di chúc:
Theo quy định của Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức di chúc không trái quy định của luật;
- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc;
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, lý do phổ biến nhất để yêu cầu tuyên di chúc vô hiệu là cho rằng bố mẹ đã già yếu, bệnh tật, không còn minh mẫn khi lập di chúc. Để tránh rủi ro này, bố mẹ nên lập di chúc khi sức khỏe còn ổn định hoặc lựa chọn hình thức lập di chúc tại văn phòng công chứng, thậm chí kèm theo hồ sơ y tế chứng minh tình trạng sức khỏe tại thời điểm lập di chúc nếu cần thiết.
3.2. Xác định rõ phạm vi tài sản được định đoạt trong di chúc:
Di chúc chỉ có hiệu lực đối với phần tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc. Do đó, cần phân định rõ:
- Tài sản riêng của bố hoặc mẹ;
- Tài sản chung của vợ chồng (chỉ được định đoạt phần quyền sở hữu của mình);
- Tài sản đang thế chấp, đang tranh chấp hoặc chưa hoàn tất thủ tục pháp lý.
Đối với tài sản chung vợ chồng, nếu chỉ một người lập di chúc thì không được định đoạt toàn bộ tài sản chung mà chỉ được định đoạt phần giá trị thuộc quyền sở hữu của mình. Việc không làm rõ vấn đề này là nguyên nhân thường xuyên dẫn đến tranh chấp và yêu cầu hủy một phần hoặc toàn bộ di chúc.
3.3. Ghi nhận rõ ràng, cụ thể người thừa kế và phần di sản được hưởng:
Di chúc cần ghi đầy đủ, chính xác thông tin của người thừa kế, bao gồm: họ tên, năm sinh, mối quan hệ với người lập di chúc và phần di sản được hưởng. Việc phân chia cần rõ ràng và có định lượng cụ thể, tránh các cách diễn đạt mang tính cảm tính hoặc mơ hồ như: “chia đều”, “tùy các con sắp xếp”, “giao cho người lớn quyết định”…
Trong trường hợp người lập di chúc không muốn cho một người nào đó hưởng di sản thì người lập di chúc cũng nên thể hiện rõ ý chí này trong di chúc, tránh để khoảng trống pháp lý dẫn đến việc các bên tranh luận về ý định thực sự của người để lại di sản.
3.4. Lưu ý quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Mặc dù pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của người lập di chúc, nhưng vẫn có những trường hợp người thừa kế được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc, bao gồm: Cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015).
Do đó, khi lập di chúc, bố mẹ cần tính toán để đảm bảo phần di sản tối thiểu theo luật cho các đối tượng này, nếu không di chúc có thể bị điều chỉnh khi thực hiện, dẫn đến mâu thuẫn và khiếu kiện giữa các đồng thừa kế.
3.5. Lựa chọn hình thức di chúc phù hợp, ưu tiên di chúc công chứng:
Pháp luật cho phép nhiều hình thức di chúc khác nhau (di chúc bằng văn bản không công chứng, có người làm chứng, di chúc công chứng, chứng thực…). Tuy nhiên, để hạn chế tranh chấp, di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực luôn là hình thức an toàn và có giá trị chứng cứ cao nhất.
Lưu ý:
- Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 (mục 3.1);
- Di chúc viết tay, không công chứng thường dễ bị tranh chấp về chữ viết, chữ ký, thời điểm lập di chúc hoặc nội dung bị sửa đổi, bổ sung trái phép;
- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


