Bộ luật Dân sự 2005 trước đây có quy định về di chúc chung của vợ chồng (Điều 663). Tuy nhiên, đến Bộ luật Dân sự 2015 thì quy định này đã bị bãi bỏ. Việc áp dụng và xử lý các di chúc chung hiện nay vẫn còn gây nhiều lúng túng cho nhiều người. Vậy: Vợ có quyền đổi nội dung di chúc chung sau khi chồng mất không?
Mục lục bài viết
1. Vợ chồng có được lập di chúc chung hay không?
Theo quy định của pháp luật hiện hành, kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2005 hết hiệu lực (ngày 1/1/2017), pháp luật dân sự không còn ghi nhận chế định di chúc chung của vợ chồng như một hình thức di chúc độc lập. Sự thay đổi này xuất phát từ những bất cập trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc.
Cụ thể, đối với di chúc chung, khi một bên vợ hoặc chồng có nhu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nội dung di chúc thì bắt buộc phải có sự đồng ý của người còn lại. Điều này làm hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của mỗi cá nhân và dễ phát sinh mâu thuẫn trong quá trình thực hiện quyền lập di chúc.
Cần lưu ý rằng Bộ luật Dân sự năm 2015 không có bất kì quy định nào cấm vợ chồng lập di chúc chung. Trên thực tế, vợ chồng vẫn có thể thỏa thuận với nhau về nội dung định đoạt tài sản trong cùng một văn bản, miễn là việc lập di chúc bảo đảm đầy đủ các điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật về thừa kế (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Dù vậy, để hạn chế rủi ro pháp lý và tránh tranh chấp về sau, giải pháp an toàn và được khuyến nghị là mỗi người nên lập di chúc riêng; trong đó xác định rõ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (đặc biệt là tài sản riêng và phần tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng). Cách thức này vừa bảo đảm quyền định đoạt độc lập của mỗi người vừa tạo thuận lợi cho việc phân chia di sản khi mở thừa kế.
2. Vợ có quyền đổi nội dung di chúc chung sau khi chồng mất?
Trước đây, Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về di chúc chung của vợ, chồng. Điều 663 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: ”Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Tuy nhiên đến Bộ luật Dân sự 2015, Điều luật này đã bị bãi bỏ.
Tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Và Điều 194 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc như sau:
- Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào;
- Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật;
- Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
Theo đó, điều luật này quy định người lập di chúc hoàn toàn có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập vào bất cứ một lúc nào. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.
Vợ và chồng có quyền cùng nhau lập chung một di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi mất (theo phân tích tại Mục 1) và trong di chúc sẽ thể hiện ý chí, nguyện vọng của cả hai bên vợ chồng.
Một trong hai vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ bản di chúc mà mình đã lập nhưng sẽ chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ đối với phần tài sản của mình, bởi pháp luật quy định cá nhân chỉ được để lại di chúc đối với tài sản riêng của mình và phần tài sản của mình trong khối tài sản chung với người khác.
Như vậy: Người vợ ĐƯỢC quyền đổi nội dung di chúc chung sau khi chồng mất nhưng sẽ chỉ được thay đổi đối với phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng mà KHÔNG có quyền thay đổi phần di chúc của người chồng đã mất.
Sau khi người vợ đổi nội dung di chúc với phần tài sản của mình trong tài sản chung của vợ chồng thì:
- Trong trường hợp người vợ bổ sung nội dung di chúc với phần tài sản của mình trong tài sản chung của vợ chồng: Phần di chúc đã lập trong di chúc chung của vợ chồng và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau. Nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật;
- Trong trường hợp người vợ thay thế nội dung di chúc với phần tài sản của mình trong tài sản chung của vợ chồng: Phần nội dung di chúc trước sẽ bị hủy bỏ.
3. Quy trình sửa đổi, bổ sung di chúc chung sau khi chồng mất:
Bước 1: Xác định rõ phạm vi tài sản.
Người vợ cần tiến hành xác định và phân loại tài sản, gồm:
- Tài sản riêng của chồng;
- Tài sản riêng của vợ;
- Tài sản chung của vợ chồng (xác định phần của mỗi người).
Việc xác định này được thực hiện thông qua:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;
- Hợp đồng mua bán, tặng cho hoặc thừa kế;
- Thỏa thuận tài sản chung, tài sản riêng (nếu có).
Đây là bước bắt buộc bởi chỉ khi xác định rõ phần tài sản của mình, người vợ mới có căn cứ hợp pháp để sửa đổi hoặc bổ sung di chúc.
Bước 2: Xác định tình trạng pháp lý của di chúc chung đã lập.
Cần làm rõ các nội dung:
- Di chúc chung đã lập có hợp pháp hay không (về chủ thể, hình thức, nội dung);
- Di chúc đã được công chứng/chứng thực hay chưa;
- Nội dung di chúc chung định đoạt tài sản chung theo cách nào.
Nếu di chúc chung hợp pháp thì:
- Phần di chúc liên quan đến người chồng giữ nguyên hiệu lực;
- Phần liên quan đến người vợ chưa phát sinh hiệu lực (chỉ có hiệu lực khi người vợ qua đời).
Bước 3: Lập văn bản sửa đổi, bổ sung di chúc.
Văn bản này cần ghi rõ:
- Thông tin người lập di chúc (người vợ);
- Căn cứ vào di chúc chung đã lập trước đây;
- Xác định rõ chỉ sửa đổi, bổ sung đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người vợ;
- Khẳng định không sửa đổi, không ảnh hưởng đến phần di chúc liên quan đến di sản của người chồng.
Bước 4: Công chứng hoặc chứng thực di chúc sửa đổi.
Để bảo đảm giá trị pháp lý cao nhất, người vợ nên:
- Thực hiện công chứng di chúc tại Phòng/Văn phòng công chứng; hoặc
- Chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã/phường.
Hồ sơ thông thường gồm:
- CMND/CCCD của người vợ;
- Giấy chứng tử của người chồng;
- Bản di chúc chung đã lập trước đó;
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản;
- Dự thảo văn bản sửa đổi/bổ sung hoặc di chúc mới.
4. Hiệu lực của di chúc chung vợ chồng sau khi chồng mất:
Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015).
Như vậy: Vợ chồng để lại di chúc chung thì sau khi người chồng mất:
- Di chúc chung của vợ chồng sẽ chỉ có hiệu lực một phần đối với phần tài sản của người chồng;
- Còn nội dung di chúc đối với phần tài sản của người vợ chưa có hiệu lực.
Ngoài ra, Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về hạn chế phân chia di sản như sau:
- Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia;
- Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định;
- Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
Lưu ý: Khi lập di chúc thì người chồng có thể thể hiện ý chí của mình về thời gian phân chia tài sản (đối với phần di sản của mình) sau khi mình qua đời (ví dụ: thời gian phân chia di sản của người chồng trong khối tài sản chung là ngay sau khi người chồng mất, hoặc sau khi người vợ mất, hoặc sau khi người chồng mất 2 năm…) mà không nhất định phải phân chia di sản của người chồng ngay sau khi phần di chúc của người chồng trong di chúc chung của vợ chồng bắt đầu có hiệu lực.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


