Trong quan hệ dân sự, quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của cá nhân được pháp luật ghi nhận. Việc xác định ai là người có quyền hưởng di sản thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Vậy, trẻ sơ sinh có quyền được hưởng di sản thừa kế không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Trẻ sơ sinh có quyền thừa kế hay không?
Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Như vậy: Pháp luật thừa kế không chỉ bảo vệ quyền lợi của những người đang còn sống tại thời điểm mở thừa kế mà còn bảo đảm quyền lợi cho những người đã được hình thành trong bụng mẹ trước khi người để lại di sản qua đời. Nói cách khác, nếu một đứa trẻ đã được thụ thai trước thời điểm người để lại di sản chết và sau đó được sinh ra còn sống thì đứa trẻ đó vẫn được xác định là người thừa kế hợp pháp.
Do đó, trẻ sơ sinh hoàn toàn có thể trở thành người thừa kế theo quy định của pháp luật, miễn là đáp ứng điều kiện đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và được sinh ra còn sống sau thời điểm đó. Trong trường hợp này, phần di sản mà đứa trẻ được hưởng sẽ được xác định giống như đối với các người thừa kế khác cùng hàng thừa kế theo quy định của pháp luật hoặc theo nội dung của di chúc. Hay nói cách khác, trẻ sơ sinh cũng thuộc đối tượng CÓ QUYỀN thừa kế theo quy định pháp luật.
Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đặc biệt là những trẻ chưa được sinh ra tại thời điểm người để lại di sản chết. Đồng thời, quy định cũng thể hiện tính nhân văn của pháp luật khi bảo đảm quyền tài sản cho thai nhi – những chủ thể chưa có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình. Nhờ đó, việc phân chia di sản thừa kế được thực hiện công bằng, đầy đủ và bảo đảm quyền lợi chính đáng của mọi thành viên trong gia đình.
2. Xác định phần di sản thừa kế của trẻ sơ sinh:
Khi xác định quyền thừa kế của trẻ sơ sinh, ngoài việc xác định trẻ có đủ điều kiện trở thành người thừa kế hay không, cần phải xác định cụ thể phần di sản mà trẻ được hưởng trong khối di sản của người đã chết. Việc xác định này được thực hiện dựa trên các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.
Theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp thừa kế theo pháp luật những người thừa kế được xác định theo từng hàng thừa kế với thứ tự ưu tiên khác nhau. Cụ thể, pháp luật quy định 03 hàng thừa kế như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Đặc biệt, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Nguyên tắc quan trọng trong thừa kế theo pháp luật là những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Đồng thời, những người thuộc hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Từ quy định trên có thể thấy, trong trường hợp trẻ sơ sinh là con của người để lại di sản, đứa trẻ đó sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng phần di sản ngang bằng với những người thừa kế khác cùng hàng như cha, mẹ hoặc các anh chị em của mình. Ví dụ, nếu người chết để lại di sản và có vợ cùng hai người con, trong đó có một trẻ sơ sinh thì khối di sản sẽ được chia thành ba phần bằng nhau cho 03 người thừa kế cùng hàng.
Tuy nhiên, do chưa thành niên (chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ) nên phần di sản thừa kế trẻ sơ sinh được hưởng sẽ do người giám hộ đương nhiên (hoặc được cử ra) quản lý cho đến khi trẻ thành niên (năng lực hành vi dân sự đầy đủ).
Việc quy định rõ cách xác định phần di sản thừa kế của trẻ sơ sinh không chỉ bảo đảm quyền tài sản hợp pháp của trẻ mà còn giúp quá trình phân chia di sản được thực hiện minh bạch, công bằng giữa các người thừa kế. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện sự bảo vệ đặc biệt của pháp luật đối với trẻ em – những chủ thể yếu thế cần được bảo đảm quyền lợi ngay cả khi chưa có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3. Di sản thừa kế của trẻ sơ sinh được quản lý như thế nào?
Trong quan hệ thừa kế, mặc dù trẻ sơ sinh có quyền được hưởng di sản theo quy định của pháp luật nhưng do chưa đủ tuổi thành niên và chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên trẻ không thể tự mình quản lý, sử dụng hoặc định đoạt phần tài sản thừa kế được hưởng. Vì vậy, pháp luật quy định việc quản lý phần di sản của trẻ phải do người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ thực hiện nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.
Theo quy định tại Điều 59 của Bộ luật Dân sự 2015:
- Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ;
- Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ;
- Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Cụ thể, việc quản lý di sản thừa kế của trẻ sơ sinh được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của trẻ như tài sản của chính mình. Điều này có nghĩa là người giám hộ phải bảo quản, giữ gìn và sử dụng tài sản một cách hợp lý, tránh làm thất thoát hoặc giảm giá trị tài sản của trẻ. Người giám hộ phải thực hiện việc quản lý tài sản một cách trung thực, cẩn trọng và luôn đặt lợi ích của người được giám hộ lên hàng đầu.
- Thứ hai, mọi giao dịch liên quan đến tài sản của trẻ phải vì lợi ích của trẻ. Người giám hộ có thể thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của trẻ sơ sinh như quản lý, khai thác hoặc sử dụng tài sản nếu việc đó mang lại lợi ích cho trẻ. Tuy nhiên, đối với những tài sản có giá trị lớn, các giao dịch như bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp hoặc các giao dịch khác phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tài sản của trẻ không bị sử dụng sai mục đích hoặc bị lạm dụng.
- Thứ ba, người giám hộ không được tặng cho tài sản của người được giám hộ cho người khác. Pháp luật nghiêm cấm việc người giám hộ tự ý đem tài sản của người được giám hộ, trong đó có tài sản thừa kế của trẻ sơ sinh, để tặng cho người khác. Ngoài ra, các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều bị coi là vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch đó được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Lưu ý, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định như sau (Điều 57 Bộ luật Dân sự 2015):
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;
- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật Dân sự 2015 thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;
- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 57 Bộ luật Dân sự 2015 thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


