Trong quan hệ gia đình, con rể là người gắn bó mật thiết với cha mẹ vợ thông qua hôn nhân, cùng chung sống, chăm sóc và phụng dưỡng trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, khi phát sinh vấn đề liên quan đến tài sản, đặc biệt là sau khi cha mẹ vợ qua đời, không ít người băn khoăn: Con rể có được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ vợ không?
Mục lục bài viết
- 1 1. Con rể có được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ vợ không?
- 2 2. Những lưu ý quan trọng khi xác định quyền thừa kế của con rể:
- 3 3. Các câu hỏi thường gặp về quyền thừa kế của con rể:
- 3.1 3.1. Con rể có được đứng tên nhận di sản thừa kế thay cho vợ không?
- 3.2 3.2. Con rể có được hưởng thừa kế nếu vợ đã mất không?
- 3.3 3.3. Con rể có được hưởng thừa kế nếu đã ly hôn với con gái của người để lại di sản không?
- 3.4 3.4. Con rể có được hưởng thừa kế nếu sống chung và chăm sóc cha mẹ vợ không?
1. Con rể có được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ vợ không?
Con rể là cách gọi của cha mẹ vợ đối với chồng của con gái mình. Mặc dù giữa con rể và cha mẹ vợ không tồn tại quan hệ huyết thống nhưng pháp luật về hôn nhân và gia đình vẫn ghi nhận những quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các chủ thể này nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình hòa thuận, gắn bó, ổn định và hạnh phúc.
Điều 80 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các Điều 69, 70, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo đó, trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ, các bên có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau phù hợp với truyền thống gia đình và chuẩn mực xã hội.
Quyền và nghĩa vụ giữa con rể, con dâu với cha mẹ vợ, cha mẹ chồng chỉ phát sinh trong trường hợp có tổ chức đời sống chung. Ngay cả trong trường hợp này, phạm vi quyền và nghĩa vụ giữa các bên cũng hạn chế hơn so với quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ và con. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa con rể (con dâu) và cha mẹ vợ (cha mẹ chồng) mang tính hỗ trợ, đạo đức và gia đình nhiều hơn là quan hệ pháp lý mang tính huyết thống trực tiếp.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc chia di sản thừa kế được thực hiện theo 02 hình thức, bao gồm:
- Chia thừa kế theo pháp luật;
- Và chia thừa kế theo di chúc.
Do đó, để xác định con rể có được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ vợ (cha mẹ chồng) hay không thì cần xem xét cụ thể trong từng hình thức chia thừa kế này. Cụ thể như sau:
1.1. Trường hợp chia di sản thừa kế theo pháp luật:
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật xác định những người thừa kế theo pháp luật theo thứ tự các hàng thừa kế như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Theo nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế, người được hưởng thừa kế theo pháp luật phải là cá nhân có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản.
Đối chiếu với các quy định nêu trên có thể thấy, con rể không thuộc bất kỳ hàng thừa kế nào theo pháp luật của cha mẹ vợ do giữa con rể và cha mẹ vợ không tồn tại quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và cũng không phải là quan hệ hôn nhân trực tiếp.
Hay nói cách khác, trong trường hợp di sản của cha mẹ vợ được chia theo pháp luật thì con rể KHÔNG có quyền hưởng di sản thừa kế kể cả trong trường hợp quan hệ hôn nhân giữa con rể và con gái của người để lại di sản vẫn đang tồn tại hợp pháp.
1.2. Trường hợp chia di sản thừa kế theo di chúc:
Khác với thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc là việc phân chia di sản theo ý chí của người để lại tài sản được thể hiện trong di chúc hợp pháp. Pháp luật cho phép cá nhân có quyền chỉ định bất kỳ người nào được hưởng di sản của mình mà không phụ thuộc vào quan hệ huyết thống hay hôn nhân, miễn là việc lập di chúc đúng quy định và hợp pháp (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo đó, nếu cha mẹ vợ lập di chúc hợp pháp và trong nội dung di chúc thể hiện rõ ý chí để lại di sản cho con rể thì con rể sẽ ĐƯỢC quyền hưởng phần di sản theo đúng nội dung di chúc. Trong trường hợp này, con rể được hưởng thừa kế với tư cách là người được chỉ định trong di chúc mà không phải là người thừa kế theo pháp luật.
Ngược lại, nếu cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng có lập di chúc nhưng không chỉ định con rể là người hưởng di sản hoặc không để lại di chúc thì khi di sản được chia theo pháp luật thì con rể sẽ KHÔNG được hưởng thừa kế.
Như vậy: Con rể không phải là người thừa kế theo pháp luật của cha mẹ vợ nên không được hưởng di sản nếu di sản được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng lập di chúc hợp pháp và có chỉ định để lại di sản cho con rể thì con rể vẫn được hưởng phần di sản theo nội dung di chúc.
2. Những lưu ý quan trọng khi xác định quyền thừa kế của con rể:
2.1. Quan hệ hôn nhân không đồng nghĩa với quyền thừa kế:
Trong thực tiễn, nhiều người cho rằng con rể có quan hệ hôn nhân hợp pháp với con gái của người để lại di sản thì đương nhiên có quyền hưởng thừa kế từ cha mẹ vợ. Tuy nhiên, cần khẳng định rõ rằng quan hệ hôn nhân chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ trực tiếp giữa vợ và chồng, không làm phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa con rể và cha mẹ vợ. Quyền thừa kế chỉ được xác lập khi tồn tại quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ được chỉ định hợp pháp trong di chúc. Đây là nguyên tắc cốt lõi của pháp luật thừa kế.
2.2. Phải xác định đúng căn cứ chia thừa kế:
Khi xem xét quyền hưởng di sản của con rể, yếu tố đầu tiên cần làm rõ là căn cứ chia thừa kế. Nếu di sản được chia theo pháp luật, con rể không thuộc bất kỳ hàng thừa kế nào của cha mẹ vợ nên không có quyền hưởng di sản; bất kể có sống chung, phụng dưỡng hay chăm sóc cha mẹ vợ trong thời gian dài. Ngược lại, nếu cha mẹ vợ để lại di chúc hợp pháp và trong di chúc có chỉ định con rể là người hưởng di sản thì quyền thừa kế của con rể được xác lập trên cơ sở ý chí định đoạt tài sản của người để lại di sản mà không phải từ quan hệ hôn nhân.
2.3. Không đồng nhất công chăm sóc, phụng dưỡng với quyền thừa kế:
Một hiểu lầm phổ biến khác là cho rằng con rể trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ vợ khi về già thì sẽ được “chia phần” di sản. Trên thực tế, công chăm sóc, phụng dưỡng là nghĩa vụ mang tính đạo đức và gia đình, không phải là căn cứ pháp lý để xác lập quyền thừa kế. Trừ trường hợp công chăm sóc đó được ghi nhận thông qua di chúc hợp pháp hoặc thông qua hợp đồng dân sự độc lập (như hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng…) thì việc chăm sóc dù kéo dài bao lâu cũng không làm phát sinh quyền thừa kế theo pháp luật.
2.4. Phân biệt quyền hưởng di sản với quyền quản lý, định đoạt di sản:
Trong một số trường hợp, con rể được cha mẹ vợ giao quản lý, trông nom tài sản hoặc đứng tên đại diện thực hiện các giao dịch liên quan đến di sản. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ rằng quyền quản lý di sản không đồng nghĩa với quyền sở hữu hay quyền hưởng thừa kế. Việc con rể quản lý tài sản chỉ mang tính ủy quyền hoặc hỗ trợ và không làm phát sinh quyền hưởng di sản nếu không có căn cứ pháp lý rõ ràng.
Đồng thời, trong trường hợp cha mẹ vợ thực sự mong muốn để lại tài sản cho con rể, giải pháp pháp lý an toàn và rõ ràng nhất là lập di chúc hợp pháp, thể hiện cụ thể phần di sản dành cho con rể. Việc lập di chúc không chỉ bảo đảm ý chí định đoạt tài sản của người để lại di sản mà còn hạn chế tối đa tranh chấp giữa các đồng thừa kế sau này, đặc biệt trong bối cảnh con rể không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
3. Các câu hỏi thường gặp về quyền thừa kế của con rể:
3.1. Con rể có được đứng tên nhận di sản thừa kế thay cho vợ không?
Về nguyên tắc, con rể không phải là người thừa kế theo pháp luật của cha mẹ vợ nên không có quyền đứng tên nhận di sản thừa kế thay cho vợ. Trường hợp người vợ là người thừa kế hợp pháp thì chỉ người vợ mới có tư cách pháp lý để đứng tên nhận di sản hoặc tham gia các thủ tục khai nhận, phân chia di sản thừa kế.
Tuy nhiên, con rể có thể đại diện cho vợ tham gia các thủ tục thừa kế nếu có văn bản ủy quyền hợp pháp. Khi đó, con rể chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ với tư cách người được ủy quyền và không phát sinh quyền thừa kế độc lập đối với di sản.
3.2. Con rể có được hưởng thừa kế nếu vợ đã mất không?
Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Trong trường hợp người vợ (con gái của người để lại di sản) chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha mẹ thì việc xác định quyền hưởng di sản được thực hiện theo nguyên tắc thừa kế thế vị. Theo đó, con chung của vợ chồng (cháu ngoại của người để lại di sản) sẽ là người hưởng phần di sản mà người vợ đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
Con rể trong trường hợp này không được hưởng thừa kế bởi pháp luật không quy định thừa kế thế vị cho con rể. Con rể chỉ có thể quản lý phần di sản của con chưa thành niên (nếu có) với tư cách người đại diện theo pháp luật, chứ không phải là người hưởng thừa kế.
3.3. Con rể có được hưởng thừa kế nếu đã ly hôn với con gái của người để lại di sản không?
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Khi quan hệ hôn nhân giữa con rể và con gái của người để lại di sản đã chấm dứt hợp pháp thì mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hôn nhân cũng chấm dứt theo. Do đó trong trường hợp này, con rể không có quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ vợ, kể cả khi việc ly hôn xảy ra trước hay sau thời điểm mở thừa kế.
Ngay cả trong trường hợp người vợ được hưởng di sản thừa kế và sau đó ly hôn thì phần di sản đó chỉ được coi là tài sản riêng của người vợ, trừ khi có thỏa thuận nhập vào tài sản chung. Con rể (người chồng cũ) không đương nhiên được hưởng phần di sản này.
3.4. Con rể có được hưởng thừa kế nếu sống chung và chăm sóc cha mẹ vợ không?
Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế: Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật Dân sự 2015.
Việc con rể sống chung, trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ vợ trong thời gian dài không làm phát sinh quyền thừa kế theo pháp luật. Pháp luật thừa kế không lấy công chăm sóc làm căn cứ xác lập quyền hưởng di sản.
Chỉ trong trường hợp cha mẹ vợ lập di chúc hợp pháp, trong đó ghi nhận rõ ý chí để lại di sản cho con rể vì lý do chăm sóc, phụng dưỡng thì con rể mới được hưởng thừa kế theo di chúc. Ngoài ra, các hình thức khác như tặng cho tài sản, chuyển nhượng tài sản… khi cha mẹ còn sống cũng là hình thức hợp pháp để trao quyền lợi cho con rể.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


