Trong thực tế, không ít gia đình phát sinh tranh chấp thừa kế khi bố tái hôn, có vợ hai và con riêng, đặc biệt khi tài sản được hình thành qua nhiều giai đoạn và quan hệ huyết thống đan xen phức tạp. Vậy: Cách phân chia di sản thừa kế khi bố lấy vợ hai, có con riêng được thực hiện như thế nào?
Mục lục bài viết
1. Cách phân chia di sản thừa kế khi bố lấy vợ hai, có con riêng:
Để phân chia được di sản thừa kế khi bố lấy vợ hai, có con riêng thì trước tiên cần xác định di sản bố để lại là tài sản riêng của bố hay là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bố với mẹ cả hoặc trong thời kì hôn nhân của bố với mẹ hai để tiến hành làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Cụ thể như sau:
a. Tài sản thừa kế là tài sản riêng của bố:
(1) Các loại tài sản riêng của vợ chồng được quy định như sau:
- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng;
- Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng:
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng;
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng; ngoại trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác;
- Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản riêng.
(2) Nếu bố để lại di chúc thì sẽ được chia theo nội dung di chúc. Trừ những trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định
(3) Nếu bố không để lại di chúc thì tài sản mà bố để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi. Như vậy người vợ hiện tại là người vợ hai và con của hai người là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng di sản thừa kế của người bố.
b. Tài sản thừa kế là tài sản chung của bố và vợ cả hoặc của bố và vợ hai sẽ được chia như sau:
Theo nguyên tắc được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 33 và Điều 43), tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng được xác định là tài sản chung của vợ chồng; ngoại trừ trường hợp có căn cứ chứng minh là tài sản riêng.
Trường hợp vợ hoặc chồng chết mà không để lại di chúc, thì phần tài sản thuộc sở hữu của người chết trong khối tài sản chung sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Cụ thể, khối tài sản chung của vợ chồng sẽ được xác định và chia đôi mỗi người có quyền sở hữu đối với 1/2 giá trị tài sản chung.
Áp dụng vào trường hợp của anh, khi mẹ qua đời không để lại di chúc thì người bố đương nhiên được xác định sở hữu 1/2 khối tài sản chung của bố mẹ. Phần 1/2 tài sản còn lại là di sản của mẹ sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định. Tùy từng vụ việc cụ thể, Tòa án sẽ xem xét, xác định phạm vi di sản và chia theo đúng kỷ phần thừa kế để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
2. Giải quyết tranh chấp thừa kế khi bố có vợ hai, con riêng:
Trong các gia đình có yếu tố tái hôn, con riêng – con chung, tranh chấp thừa kế rất dễ phát sinh do khác biệt về quyền lợi, cách hiểu pháp luật và tình cảm gia đình. Việc lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp sẽ giúp hạn chế xung đột và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
2.1. Thương lượng, thỏa thuận giữa các đồng thừa kế:
Thương lượng, thỏa thuận là phương thức được ưu tiên hàng đầu khi phát sinh tranh chấp thừa kế. Theo đó, các đồng thừa kế (vợ hai, con riêng, con chung…) có thể ngồi lại để thống nhất việc xác định di sản, kỷ phần thừa kế và cách phân chia tài sản. Phương thức này góp phần:
- Giữ được quan hệ gia đình và tránh mâu thuẫn kéo dài;
- Tiết kiệm thời gian và chi phí so với việc khởi kiện;
- Linh hoạt trong cách chia di sản, có thể thỏa thuận khác với kỷ phần luật định nếu các bên tự nguyện.
Tuy nhiên, để thỏa thuận có giá trị pháp lý và tránh tranh chấp về sau thì nội dung thỏa thuận nên được lập thành văn bản, có chữ ký của tất cả đồng thừa kế và công chứng hoặc chứng thực theo quy định, đặc biệt khi di sản là nhà đất và các tài sản có giá trị khác.
2.2. Khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế:
Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được hoặc có người không hợp tác, che giấu tài sản, phủ nhận quan hệ thừa kế thì khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền là biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Khi giải quyết vụ án, Tòa án sẽ:
- Xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp của bố với vợ hai;
- Làm rõ quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng hợp pháp của con riêng, con chung;
- Xác định tài sản riêng, tài sản chung của bố với vợ hai;
- Xác định phạm vi di sản và chia theo đúng kỷ phần thừa kế hoặc theo di chúc (nếu có).
Trong thực tiễn, các vụ án thừa kế có vợ hai và con riêng thường phức tạp, kéo dài do phải thu thập nhiều chứng cứ về tài sản và quan hệ nhân thân. Vì vậy, người khởi kiện cần chuẩn bị kỹ hồ sơ và chứng cứ ngay từ đầu.
2.3. Hồ sơ, thủ tục khởi kiện cần chuẩn bị:
Để Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế, người khởi kiện cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ khởi kiện. Bao gồm:
- Đơn khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế (Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015);
- Giấy chứng tử của bố;
- Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế (giấy đăng ký kết hôn của bố với vợ hai, giấy khai sinh của con riêng, con chung, quyết định công nhận con nuôi nếu có…);
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với di sản (nhà đất, tài sản khác);
- Các tài liệu chứng minh nguồn gốc tài sản, thời điểm hình thành tài sản;
- Giấy tờ tùy thân của người khởi kiện.
Sau khi nộp đơn và hồ sơ hợp lệ, người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án sẽ trải qua các giai đoạn: thụ lý, chuẩn bị xét xử, hòa giải (nếu có điều kiện), xét xử sơ thẩm và các thủ tục tố tụng tiếp theo theo quy định pháp luật.
3. Con của vợ hai có được hưởng di sản thừa kế của bố không?
Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những người thừa kế theo pháp luật. Theo đó, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Ngoài ra, tại Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp không được quyền hưởng di sản thừa kế như sau:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Những trường hợp vừa nêu trên sẽ không được quyền hưởng di sản, ngoại trừ trường hợp người để lại di sản đã biết rõ về những hành vi nêu trên nhưng vẫn cho người đó được hưởng di sản theo di chúc (khoản 2 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015).
Như vậy, pháp luật không quy định phân biệt con vợ cả hay vợ hai thì được hưởng di sản thừa kế. Chỉ cần chứng minh được là con đẻ/con nuôi hợp pháp thì sẽ ĐƯỢC hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


