Thừa kế di sản theo di chúc là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự Việt Nam, thể hiện rõ quyền định đoạt tài sản của cá nhân sau khi chết. Thông qua việc lập di chúc, người để lại di sản có quyền xác định người thừa kế, phân chia di sản cũng như đặt ra các điều kiện và nghĩa vụ gắn liền với việc hưởng thừa kế. Vậy: Các quy định của pháp luật về thừa kế di sản theo di chúc gồm những gì?
Mục lục bài viết
1. Quyền thừa kế di sản theo di chúc được quy định như thế nào?
Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Căn cứ Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nội dung di chúc. Theo đó, di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngoài các nội dung nêu trên thì di chúc có thể có các nội dung khác.
Từ các quy định nêu trên có thể khẳng định: Quyền thừa kế di sản theo di chúc là quyền phát sinh trực tiếp từ ý chí tự nguyện của cá nhân được thể hiện thông qua di chúc hợp pháp. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận và bảo đảm quyền định đoạt tài sản của cá nhân sau khi chết; đồng thời xác lập cơ sở pháp lý rõ ràng để những người, cơ quan, tổ chức được chỉ định trong di chúc trở thành chủ thể có quyền hưởng di sản. Chỉ khi di chúc đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật, quyền thừa kế của các chủ thể được nêu trong di chúc mới được xác lập và bảo vệ.
Qua đó, pháp luật không chỉ tôn trọng tối đa ý chí của người để lại di sản mà còn góp phần bảo đảm trật tự, ổn định trong quan hệ thừa kế và hạn chế tranh chấp phát sinh trên thực tế.
2. Các quy định của pháp luật về thừa kế di sản theo di chúc:
2.1. Hiệu lực của di chúc:
Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hiệu lực của di chúc như sau:
(1) Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
(2) Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
(3) Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Lưu ý:
- Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực;
- Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
2.2. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Lưu ý: Quy định trên không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015.
2.3. Di sản dùng vào việc thờ cúng:
Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015:
Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Lưu ý:
- Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng;
- Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật;
- Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
2.4. Di tặng trong pháp luật về thừa kế di sản:
Điều 646 Bộ luật Dân sự 2015 Bộ luật Dân sự 2015 quy đinh về di tặng. Cụ thể như sau:
- Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc;
- Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.
3. Có những hình thức di chúc nào?
Pháp luật dân sự Việt Nam quy định nhiều hình thức di chúc khác nhau nhằm bảo đảm tối đa quyền lập di chúc của cá nhân; đồng thời phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của người để lại di sản. Theo quy định của Điều 627 và Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có thể được lập bằng văn bản hoặc bằng miệng; trong đó mỗi hình thức đều có những điều kiện riêng để được coi là hợp pháp và có hiệu lực thi hành.
3.1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là hình thức di chúc do người lập di chúc tự mình viết và ký tên, không cần sự chứng kiến của người khác. Hình thức này chỉ được pháp luật thừa nhận khi người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm lập di chúc.
Nội dung di chúc phải thể hiện rõ ý chí tự nguyện của người lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; đồng thời phải ghi đầy đủ các thông tin cơ bản như (Điều 631):
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Người được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
Di chúc viết tay không có người làm chứng chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật.
3.2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
Di chúc bằng văn bản có người làm chứng được áp dụng trong trường hợp người lập di chúc không thể tự viết hoặc tự ký tên vào di chúc. Khi đó, di chúc phải có ít nhất 02 người làm chứng theo đúng quy định của pháp luật.
Người làm chứng phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc các trường hợp bị cấm làm chứng (Điều 632) như:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự;
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Việc có người làm chứng nhằm bảo đảm tính khách quan, trung thực của nội dung di chúc và hạn chế tranh chấp phát sinh sau này.
3.3. Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực:
Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực là hình thức di chúc có giá trị pháp lý cao và được khuyến khích áp dụng trong thực tiễn. Theo đó, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền (Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015).
Việc công chứng, chứng thực di chúc giúp xác nhận rõ ràng về năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện của người lập di chúc cũng như bảo đảm hình thức và nội dung di chúc phù hợp với quy định pháp luật.
Đây là cơ sở quan trọng để hạn chế rủi ro di chúc bị tuyên vô hiệu và giảm thiểu tranh chấp thừa kế trong quá trình thực hiện di chúc.
3.4. Di chúc miệng và điều kiện có hiệu lực:
Di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp đặc biệt khi tính mạng của người lập di chúc bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Việc lập di chúc miệng phải có ít nhất 02 người làm chứng và những người làm chứng này phải ghi chép lại nội dung di chúc, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ thời điểm người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng (khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Nếu quá thời hạn này mà không được xác nhận thì di chúc miệng không có giá trị pháp lý. Do tính chất đặc biệt và tiềm ẩn nhiều rủi ro tranh chấp, di chúc miệng chỉ được coi là giải pháp tình thế và không phải là hình thức di chúc phổ biến.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


