Trong thực tế giải quyết các vụ việc thừa kế, không ít gia đình gặp tình huống người con của người để lại di sản đã qua đời trước hoặc sau thời điểm cha mẹ mình mất, từ đó phát sinh thắc mắc về quyền hưởng thừa kế của thế hệ sau. Vậy, nếu bố đã mất thì con được hưởng di sản thừa kế của ông bà không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Bố mất, con được hưởng di sản thừa kế của ông bà không?
Theo quy định tại Diều 624 và Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015:
- Nếu người chết có để lại di chúc hợp pháp: di sản được chia theo nội dung di chúc;
- Nếu không có di chúc hoặc có di chúc nhưng không hợp pháp: di sản được chia theo pháp luật.
Khi chia thừa kế theo pháp luật, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản.
Các hàng thừa kế được xác định như sau (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015):
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Trong trường hợp ông bà mất không để lại di chúc, di sản sẽ được chia theo pháp luật và bố của bạn (con của ông bà) thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng cần xác định là: “Bố bạn mất trước hay sau thời điểm ông bà nội mất?” Pháp luật có những quy định khác nhau cho từng trường hợp. Xét từng trường hợp cụ thể như sau:
a. Trường hợp 1: Bố mất sau thời điểm ông bà mất:
Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Nếu bố bạn còn sống tại thời điểm ông bà mất thì bố bạn là người thừa kế hợp pháp đối với phần di sản của ông bà. Khi đó, phần tài sản bố bạn được hưởng từ ông bà trở thành di sản của bố bạn. Và khi bố bạn mất:
- Nếu bố bạn có di chúc hợp pháp, phần tài sản này sẽ được chia theo di chúc.
- Nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, tài sản sẽ được chia theo pháp luật cho mẹ bạn, bạn và các con khác của bố bạn (nếu có).
Như vậy, trong trường hợp này, người con sẽ được hưởng di sản gián tiếp thông qua di sản của người bố.
b. Trường hợp 2: Bố mất trước hoặc cùng thời điểm với ông bà:
Nếu bố bạn mất trước (hoặc cùng thời điểm) với ông bà thì bố bạn không còn là người thừa kế tại thời điểm mở thừa kế.
Tuy nhiên, pháp luật có quy định về thừa kế thế vị tại Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Điều này có nghĩa là: Nếu bố bạn mất trước ông bà thì bạn (và các anh chị em của bạn nếu có) sẽ được hưởng phần di sản mà bố bạn đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
Đây là cơ chế bảo đảm quyền lợi cho thế hệ sau và duy trì nguyên tắc huyết thống trong quan hệ thừa kế.
Như vậy: Việc “bố mất, con có được hưởng di sản của ông bà hay không” phụ thuộc hoàn toàn vào thời điểm bố mất so với thời điểm ông bà mất:
- Nếu bố mất sau ông bà: người con sẽ được hưởng thông qua di sản của bố;
- Nếu bố mất trước hoặc cùng thời điểm ông bà: người con sẽ được hưởng theo diện thừa kế thế vị.
Trong cả hai trường hợp, người con vẫn có khả năng được hưởng di sản của ông bà, nhưng căn cứ pháp lý và cách thức hưởng sẽ khác nhau.
2. Trường hợp người con không được hưởng di sản thừa kế của ông bà:
Mặc dù pháp luật cho phép người cháu được hưởng di sản của ông bà trong một số trường hợp nhất định, đặc biệt là theo cơ chế thừa kế thế vị nhưng không phải mọi trường hợp cháu đều có quyền hưởng di sản. Quyền thừa kế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố pháp lý như hàng thừa kế, nội dung di chúc, điều kiện của người thừa kế và các trường hợp bị loại trừ theo quy định của pháp luật. Việc hiểu rõ những trường hợp không được hưởng di sản sẽ giúp hạn chế tranh chấp và xác định đúng quyền lợi của các bên liên quan.
a. Người để lại di sản truất quyền hưởng thừa kế:
Pháp luật cho phép người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản của mình, bao gồm cả việc truất quyền hưởng di sản của một hoặc nhiều người thừa kế.
Nếu ông bà lập di chúc hợp pháp và thể hiện rõ ý chí truất quyền hưởng di sản đối với con hoặc cháu, thì người bị truất quyền sẽ không được nhận phần di sản, trừ trường hợp thuộc diện người thừa kế bắt buộc theo quy định của pháp luật (ví dụ: con chưa thành niên hoặc người không có khả năng lao động trong một số trường hợp cụ thể).
Do đó, nội dung di chúc là căn cứ quan trọng cần xem xét trước khi xác định quyền hưởng của cháu đối với di sản của ông bà.
b. Không đáp ứng điều kiện người thừa kế theo quy định pháp luật:
Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Vì vậy, nếu người cháu đã chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà thì sẽ không được hưởng di sản, trừ trường hợp áp dụng tiếp cơ chế thừa kế thế vị cho thế hệ sau (nếu có). Điều kiện tồn tại tại thời điểm mở thừa kế là yếu tố tiên quyết để xác định quyền hưởng di sản.
c. Các trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật:
Ngoài các trường hợp nêu trên, pháp luật còn quy định một số trường hợp cá nhân không có quyền hưởng di sản, ví dụ như người có hành vi nghiêm trọng xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của người để lại di sản hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng (Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015).
Nếu người cháu thuộc một trong những trường hợp này theo quy định của pháp luật thì dù thuộc diện thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc, họ vẫn có thể bị loại trừ quyền hưởng di sản.
3. Câu hỏi thường gặp về quyền hưởng di sản thừa kế của ông bà:
Trong thực tiễn tư vấn thừa kế, khi bố đã mất, việc xác định con có được hưởng di sản của ông bà hay không thường phát sinh nhiều thắc mắc. Dưới đây là những câu hỏi phổ biến nhất:
3.1. Cháu có được hưởng di sản nếu ông bà còn con khác không?
Nếu bố (hoặc mẹ) của cháu còn sống tại thời điểm ông bà mất thì bố (hoặc mẹ) thuộc hàng thừa kế thứ nhất và cháu không được hưởng trực tiếp (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
Ngược lại, nếu bố (hoặc mẹ) đã mất trước hoặc cùng thời điểm với ông bà thì cháu được hưởng theo diện thừa kế thế vị, tức là hưởng phần di sản mà bố (hoặc mẹ) mình đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Khi đó, dù ông bà còn những người con khác (cô, chú, bác…) thì cháu vẫn được hưởng phần tương ứng của bố mình.
3.2. Nếu bố mất từ rất lâu trước khi ông bà mất thì có được hưởng thế vị không?
Thời điểm bố mất trước bao lâu không phải là yếu tố quyết định. Điều quan trọng là bố đã mất trước hoặc cùng thời điểm với ông bà.
Chỉ cần đáp ứng điều kiện này thì cháu được hưởng thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 652). Pháp luật không giới hạn khoảng thời gian giữa hai thời điểm mất.
3.3. Nếu ông bà có lập di chúc thì cháu có còn được hưởng không?
Quyền hưởng của cháu phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Nếu di chúc hợp pháp và không chỉ định cháu là người được hưởng thì nguyên tắc chung là cháu không được hưởng.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, nếu cháu thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của pháp luật (ví dụ: chưa thành niên hoặc không có khả năng lao động trong một số điều kiện nhất định) thì vẫn có thể được hưởng phần di sản bắt buộc.
Vì vậy, cần xem xét cụ thể nội dung di chúc để xác định quyền lợi.
3.4. Nếu các cô, chú, bác không đồng ý cho cháu hưởng thì có được không?
Quyền thừa kế được xác lập theo pháp luật, không phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của các đồng thừa kế khác.
Nếu cháu thuộc diện thừa kế thế vị hợp pháp thì các cô, chú, bác… không có quyền loại trừ quyền hưởng đó. Trường hợp phát sinh tranh chấp, cháu có thể yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


