Trong quá trình sử dụng đất, nhiều hộ gia đình được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình. Khi có nhu cầu lập di chúc để định đoạt quyền sử dụng đất này, không ít người băn khoăn về chủ thể có quyền lập di chúc, phạm vi định đoạt và các điều kiện pháp lý cần tuân thủ. Vậy: Lập di chúc đất cấp cho hộ gia đình được quy định như thế nào?
Mục lục bài viết
1. Quy định lập di chúc đất cấp cho hộ gia đình như thế nào?
Đất cấp cho hộ gia đình là một chế định pháp lý đặc thù trong pháp luật đất đai Việt Nam, gắn liền với lịch sử quản lý và sử dụng đất theo mô hình kinh tế hộ gia đình. Việc nhận diện đúng bản chất pháp lý của loại đất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây chính là nền tảng để xác định quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất cũng như tính hợp pháp của các giao dịch dân sự, trong đó có việc lập di chúc thừa kế quyền sử dụng đất.
Khác với đất đứng tên cá nhân, đất cấp cho hộ gia đình không hình thành quyền sử dụng đất riêng lẻ cho từng người ngay từ đầu mà tạo lập một quan hệ sử dụng đất chung, trong đó các thành viên hộ gia đình cùng là đồng chủ thể đối với quyền sử dụng đất. Chính đặc điểm này làm phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn khi thực hiện các quyền định đoạt như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc lập di chúc.
Hiện nay, việc lập di chúc định đoạt tài sản là ”quyền sử dụng đất hộ gia đình” được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai và pháp luật dân sự.
Theo quy định của pháp luật đất đai, hộ gia đình sử dụng đất đáp ứng điều kiện là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; đang sống chung và có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Căn cứ để xác định tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất những thành viên nào sẽ có chung quyền sử dụng đất là:
- Quyết định giao đất;
- Đơn đề nghị, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Quyết định công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất…
Đồng thời, căn cứ theo Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của các thành viên gia đình. Theo đó:
- Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan;
- Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác;
- Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy: Đất của hộ gia đình được hiểu là đất thuộc quyền sử dụng chung của các thành viên trong hộ gia đình đó. Chính vì vậy đất sẽ không phải là tài sản riêng của bất kỳ ai trong gia đình.
Khi một cá nhân muốn lập di chúc đối với phần đất đó thì chỉ được phép lập di chúc định đoạt tài sản là phần quyền sử dụng đất của mình trong thửa đất chung đó, mà không thể tự một thành viên trong gia đình lập di chúc định đoạt toàn bộ cả thửa đất cho đối tượng khác.
2. Cha mẹ để lại di chúc định đoạt quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì di chúc có vô hiệu không?
Trường hợp 1: Đất cấp cho hộ gia đình nhưng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ khẩu chỉ có tên của cha mẹ thì đương nhiên cha mẹ là chủ sử dụng đất và có quyền lập di chúc để định đoạt phần đất này cho ai.
Trường hợp 2: Đất cấp cho hộ gia đình, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ khẩu có cả các con. Như vậy, thửa đất sẽ thuộc quyền sử dụng chung của cha mẹ và con cái, mà không phải tài sản chung chỉ của cha và mẹ. Như đã phân tích tại Mục 1, trong trường hợp này cha mẹ lập di chúc chỉ được định đoạt một phần đất thuộc quyền sử dụng đất của mình trong toàn bộ thửa đất đó. Cha mẹ sẽ không có quyền định đoạt toàn bộ cả thửa đất (gồm cả những phần đất thuộc quyền sử dụng đất của những người con).
Theo quy định tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp di chúc sẽ bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ bao gồm:
- Đối tượng nhận thừa kế là cá nhân chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Di chúc có một phần không hợp pháp. Tuy nhiên phần không hợp pháp đó không có ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại thì khi đó chỉ có phần không hợp pháp là không có hiệu lực;
- Đối tượng nhận thừa kế là cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Đối với một tài sản, người để lại di chúc lập nhiều bản di chúc thì khi đó chỉ có bản di chúc cuối cùng với có hiệu lực;
- Di chúc không có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, di chúc của cha mẹ lập trong trường hợp này sẽ bị vô hiệu một phần.
3. Những sai lầm thường gặp khi lập di chúc đất cấp cho hộ gia đình:
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế, các tranh chấp phát sinh từ di chúc liên quan đến đất cấp cho hộ gia đình chiếm tỷ lệ rất lớn. Nguyên nhân chủ yếu không xuất phát từ việc cố ý vi phạm pháp luật mà đến từ việc người lập di chúc không nắm rõ bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất hộ gia đình, dẫn đến cách lập di chúc không đúng quy định. Những sai lầm dưới đây là các lỗi điển hình cần được nhận diện rõ để tránh rủi ro pháp lý:
3.1. Nhầm lẫn đất hộ gia đình với tài sản riêng của cá nhân:
Một trong những sai lầm phổ biến nhất là người lập di chúc cho rằng đất được cấp cho hộ gia đình là tài sản riêng của mình chỉ vì bản thân là chủ hộ hoặc là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cách hiểu này xuất phát từ thói quen quản lý đất đai trong gia đình khi mọi giao dịch, nghĩa vụ tài chính và thủ tục hành chính đều do một người đại diện thực hiện, từ đó dẫn đến nhận thức sai lệch về quyền sở hữu.
Trên phương diện pháp lý, đất cấp cho hộ gia đình là quyền sử dụng đất chung của các thành viên hộ gia đình đủ điều kiện theo quy định tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Việc một cá nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận chỉ mang tính chất đại diện và không làm phát sinh quyền sở hữu riêng đối với toàn bộ thửa đất.
Hệ quả của sự nhầm lẫn này là người lập di chúc thường định đoạt toàn bộ thửa đất cho một hoặc một số người thừa kế mà không tính đến quyền lợi hợp pháp của các thành viên khác trong hộ gia đình. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án có cơ sở tuyên di chúc vô hiệu đối với phần vượt quá quyền sử dụng đất thuộc về người lập di chúc, làm cho ý chí định đoạt ban đầu không được thực hiện trọn vẹn.
3.2. Lập di chúc vượt quá phần quyền sử dụng đất của mình trong hộ gia đình:
Một sai lầm khác thường gặp là người lập di chúc không xác định rõ phần quyền sử dụng đất mà mình thực sự có trong khối tài sản chung của hộ gia đình. Trên thực tế, mỗi thành viên hộ gia đình sử dụng đất đều có một phần quyền nhất định, dù phần quyền này không được ghi cụ thể bằng tỷ lệ trên Giấy chứng nhận.
Do không làm rõ vấn đề này, nhiều di chúc ghi nhận nội dung chia đất theo diện tích cụ thể hoặc giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho một người thừa kế duy nhất; trong khi người lập di chúc chỉ có quyền đối với một phần quyền sử dụng đất trong tổng thể thửa đất. Điều này dẫn đến việc di chúc không phù hợp với nguyên tắc “chỉ được định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của mình”.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án thường phải tiến hành xác minh lại nguồn gốc đất, thời điểm hình thành hộ gia đình sử dụng đất và tư cách thành viên của từng người để xác định phần quyền của người lập di chúc. Kết quả là di chúc có thể bị vô hiệu một phần cũng như làm phát sinh tranh chấp phức tạp giữa những người thừa kế.
3.3. Không xác định đúng thành viên hộ gia đình tại thời điểm được cấp đất:
Nhiều người lập di chúc mắc sai lầm khi xác định thành viên hộ gia đình dựa trên tình trạng nhân khẩu tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm mở thừa kế thay vì thời điểm Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Đây là lỗi nhận thức pháp lý rất phổ biến trong thực tiễn.
Theo quy định, chỉ những người có đủ điều kiện và đang là thành viên hộ gia đình tại thời điểm được cấp đất mới được xác định là đồng chủ thể sử dụng đất. Việc một người sinh ra sau thời điểm cấp đất hoặc một người đã tách khẩu nhưng vẫn sinh sống trên đất, không đương nhiên làm phát sinh quyền sử dụng đất đối với thửa đất đó.
Nếu người lập di chúc không xác định đúng các thành viên có quyền sử dụng đất chung, nội dung di chúc sẽ dễ dàng bị tranh chấp bởi những người cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm. Trong nhiều trường hợp, Tòa án phải tuyên vô hiệu di chúc do người lập di chúc đã định đoạt cả phần quyền sử dụng đất của người khác mà không có căn cứ pháp lý.
3.4. Không công chứng, chứng thực di chúc đối với đất hộ gia đình:
Một sai lầm khác mang tính hình thức nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị pháp lý của di chúc là việc không thực hiện công chứng hoặc chứng thực di chúc liên quan đến đất cấp cho hộ gia đình. Nhiều người cho rằng chỉ cần viết tay, ký tên và có người làm chứng là đủ để di chúc có hiệu lực mà không lường hết các rủi ro pháp lý có thể phát sinh.
Đối với tài sản có giá trị lớn và có tính chất sở hữu chung phức tạp như đất hộ gia đình, di chúc không được công chứng thường gặp khó khăn trong việc chứng minh tính tự nguyện, minh mẫn của người lập di chúc cũng như phạm vi quyền định đoạt hợp pháp. Khi có tranh chấp, di chúc dạng này rất dễ bị các bên liên quan yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu.
Việc công chứng, chứng thực di chúc không chỉ giúp bảo đảm hình thức hợp pháp mà còn tạo cơ chế để công chứng viên kiểm tra sơ bộ quyền sử dụng đất, xác định chủ thể liên quan và cảnh báo các rủi ro pháp lý cho người lập di chúc… Đây là biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế tranh chấp và bảo đảm ý chí của người để lại di sản được thực hiện trên thực tế.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


