Trong thực tiễn, nhiều người lựa chọn lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng nhằm bảo đảm tính riêng tư và thuận tiện trong việc định đoạt tài sản. Tuy nhiên, không ít trường hợp phát sinh tranh chấp do hiểu chưa đúng quy định pháp luật về hình thức di chúc này, dẫn đến di chúc bị tuyên vô hiệu dù nội dung thể hiện đúng ý chí của người lập. Vậy: Quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng gồm những gì?
Mục lục bài viết
1. Quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng được quy định tại Điều 633 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
- Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc;
- Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật Dân sự 2015.
Di chúc không có người làm chứng hay còn gọi là di chúc viết tay. Điều 633 Bộ luật dân sự 2015 quy định đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì: Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.
Quy định “người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc” là điều kiện bắt buộc về hình thức. Yêu cầu này nhằm bảo đảm rằng nội dung di chúc phản ánh trực tiếp ý chí của người lập di chúc cũng như hạn chế tối đa nguy cơ giả mạo, sửa chữa hoặc can thiệp từ người khác. Việc tự viết cũng là căn cứ quan trọng để xác định chữ viết, chữ ký của người lập di chúc khi phát sinh tranh chấp.
Việc dẫn chiếu đến Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng dù đơn giản về hình thức nhưng vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chung về chủ thể, nội dung và hình thức của di chúc. Cụ thể, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt; việc lập di chúc hoàn toàn tự nguyện; nội dung di chúc không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; đồng thời di chúc phải xác định rõ người thừa kế và di sản để lại (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Như vậy, pháp luật không “nới lỏng” điều kiện đối với di chúc không có người làm chứng mà chỉ cho phép giảm bớt yếu tố trung gian, đồng thời tăng trách nhiệm của chính người lập di chúc đối với tính hợp pháp của văn bản.
Đánh giá: Quy định tại Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 tạo điều kiện thuận lợi cho người dân chủ động lập di chúc, đặc biệt là trong những trường hợp cần bảo mật thông tin, không tiện mời người làm chứng hoặc công chứng, chứng thực. Điều này phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân trong pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, do không có người làm chứng và không có sự xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên loại di chúc này tiềm ẩn nhiều rủi ro khi xảy ra tranh chấp thừa kế. Trên thực tế, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thường dễ bị tranh cãi về tính xác thực của chữ viết, chữ ký… cũng như về tình trạng minh mẫn của người lập di chúc tại thời điểm lập.
Ngoài ra, việc yêu cầu người lập di chúc phải tự viết toàn bộ nội dung cũng khiến hình thức di chúc này không phù hợp với người không biết chữ, bị hạn chế khả năng viết hoặc sức khỏe yếu, từ đó dẫn đến phạm vi áp dụng bị thu hẹp.
Như vậy: Quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng tại Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 là một cơ chế pháp lý linh hoạt, vừa bảo đảm quyền tự do lập di chúc vừa đặt ra những rào cản cần thiết để hạn chế gian lận. Để bảo đảm an toàn pháp lý cao hơn, người lập di chúc vẫn nên cân nhắc lập di chúc có người làm chứng hoặc di chúc công chứng; đặc biệt khi di sản có giá trị lớn hoặc có khả năng phát sinh tranh chấp.
2. Có bắt buộc phải có người làm chứng khi lập di chúc không?
Căn cứ Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:
- Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc;
- Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng như sau:
- Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng;
- Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc;
- Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật Dân sự 2015.
Và Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc có công chứng hoặc chứng thực, cụ thể như sau: Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.
Như vậy: Pháp luật KHÔNG bắt buộc việc lập di chúc phải có người làm chứng. Việc lựa chọn hình thức di chúc có người làm chứng hay không phụ thuộc vào nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của người lập di chúc. Trường hợp người lập di chúc lựa chọn lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng thì những người làm chứng này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo đảm di chúc có giá trị pháp lý.
3. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng có được công nhận không?
Theo Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Di chúc không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc và đáp ứng các điều kiện tại Điều 631 Bộ luật dân sự, cụ thể có đầy đủ các nội dung:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngoài các nội dung nêu trên thì di chúc có thể có các nội dung khác. Đồng thời, di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự quy định về di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;
- Không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Bên cạnh đó, cần lưu ý thêm:
- Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc;
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực;
- Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015;
- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Như vậy: Mặc dù di chúc được lập không có người làm chứng nhưng nếu di chúc đó tuân thủ đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 631 và khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu trên thì di chúc đó vẫn được pháp luật công nhận là hợp pháp và có giá trị pháp lý.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


