Trong quan hệ thừa kế, di chúc giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là sự thể hiện ý chí sau cùng của người để lại di sản và là căn cứ pháp lý trực tiếp để xác định người thừa kế cũng như phương thức phân chia tài sản sau khi người đó qua đời. Nhiều người thắc mắc rằng: Thời hạn có hiệu lực của di chúc là trong bao nhiêu năm?
Mục lục bài viết
- 1 1. Thời hạn có hiệu lực của di chúc là trong bao nhiêu năm?
- 2 2. Hết thời hiệu thừa kế thì di chúc được xử lý như thế nào?
- 3 3. Những lưu ý quan trọng để đảm bảo giá trị hiệu lực của di chúc:
- 3.1 3.1. Lập di chúc khi còn minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn tự nguyện:
- 3.2 3.2. Tuân thủ chặt chẽ quy định về hình thức của di chúc:
- 3.3 3.3. Xác định rõ ràng di sản và quyền sở hữu đối với tài sản:
- 3.4 3.4. Chỉ định người thừa kế và cách phân chia một cách cụ thể, hợp lý:
- 3.5 3.5. Thực hiện thủ tục thừa kế đúng thời hiệu:
1. Thời hạn có hiệu lực của di chúc là trong bao nhiêu năm?
Hiện nay, nhiều người thắc mắc rằng: “Thời hạn có hiệu lực của di chúc là trong bao nhiêu năm?”. Trên thực tế, không ít trường hợp nhầm lẫn giữa hiệu lực của di chúc với thời gian tồn tại của tài sản hoặc thời điểm yêu cầu chia thừa kế, từ đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật không chính xác và phát sinh tranh chấp.
Về bản chất, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015: Di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế.
Đối chiếu với khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, di chúc không có hiệu lực ngay khi được lập, mà chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm người để lại di chúc qua đời.
Pháp luật dân sự hiện hành không có quy định trực tiếp di chúc có hiệu lực trong bao nhiêu năm, do đó vấn đề này có thể được hiểu và xác định thông qua quy định về “thời hiệu thừa kế”. Cụ thể, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
(1) Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.
(2) Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
(3) Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Từ các quy định trên có thể hiểu rằng, hiệu lực thực tế của di chúc gắn liền với thời hiệu thừa kế đối với từng loại di sản. Theo đó:
- Đối với bất động sản, di chúc có giá trị làm căn cứ phân chia di sản trong thời hạn 30 năm kể từ thời điểm người để lại di chúc chết;
- Đối với động sản, di chúc có giá trị làm căn cứ phân chia di sản trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Như vậy, có thể khẳng định rằng di chúc không “hết hiệu lực” theo nghĩa hình thức nhưng việc thực hiện quyền thừa kế theo di chúc lại bị giới hạn bởi thời hiệu thừa kế theo quy định của pháp luật. Việc hiểu đúng mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế và hạn chế tranh chấp phát sinh trong thực tiễn.
2. Hết thời hiệu thừa kế thì di chúc được xử lý như thế nào?
Như đã phân tích, pháp luật không quy định trực tiếp về việc di chúc “có hiệu lực trong bao nhiêu năm” theo nghĩa hình thức, mà hiệu lực thực tế của di chúc gắn liền với thời hiệu thừa kế theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 (phân tích tại Mục 1). Khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, câu hỏi đặt ra là: Di chúc còn được áp dụng hay không và di sản sẽ được xử lý như thế nào?
Việc xử lý di chúc và di sản trong trường hợp hết thời hiệu thừa kế được pháp luật quy định khá cụ thể và phụ thuộc vào tình trạng quản lý, chiếm hữu di sản trên thực tế. Cụ thể như sau:
2.1. Trường hợp di sản đang do người thừa kế quản lý:
Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong trường hợp này cần lưu ý:
- Người đang quản lý di sản phải là người thừa kế hợp pháp (theo di chúc hoặc theo pháp luật);
- Việc quản lý phải diễn ra liên tục, công khai, ổn định trong suốt thời gian dài và không có tranh chấp;
- Khi đã hết thời hiệu, những người thừa kế khác không còn quyền yêu cầu Tòa án chia di sản (kể cả trong trường hợp họ có tên trong di chúc).
2.2. Trường hợp không có người thừa kế quản lý di sản:
Nếu hết thời hiệu thừa kế mà không có người thừa kế nào quản lý di sản thì việc xử lý di sản sẽ được thực hiện theo 02 hướng sau:
a. Di sản thuộc quyền sở hữu của người chiếm hữu theo quy định pháp luật:
Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Theo đó: Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu; trừ trường hợp Bộ luật Dân sự 2015 hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
Theo điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, di sản có thể thuộc về người đang chiếm hữu nếu việc chiếm hữu đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015. Bao gồm:
- Chiếm hữu ngay tình;
- Chiếm hữu liên tục;
- Chiếm hữu công khai;
- Đủ thời hạn từ 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản.
Trong trường hợp này, dù di chúc có tồn tại nhưng do hết thời hiệu và không còn người thừa kế quản lý nên quyền sở hữu được xác lập cho người chiếm hữu thực tế và không tiếp tục áp dụng nội dung di chúc.
b. Di sản thuộc về Nhà nước:
Trường hợp không có người thừa kế quản lý và cũng không có người chiếm hữu đáp ứng điều kiện nêu trên thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước theo quy định của pháp luật. Đây là hệ quả pháp lý khi:
- Không còn chủ thể nào đủ điều kiện xác lập quyền đối với di sản;
- Di chúc không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu.
2.3. Di chúc còn tồn tại nhưng không còn giá trị áp dụng trên thực tế:
Cần hiểu rằng: Hết thời hiệu thừa kế không đồng nghĩa với việc di chúc bị vô hiệu. Việc di chúc không được áp dụng và di chúc vô hiệu là hai chế định hoàn toàn khác nhau. Di chúc chỉ bị vô hiệu khi vi phạm điều kiện về chủ thể, nội dung hoặc hình thức theo quy định của pháp luật (Điều 117 và Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Khi đã hết thời hiệu:
- Di chúc không còn là căn cứ để yêu cầu chia di sản tại Tòa án;
- Người được chỉ định trong di chúc không còn quyền khởi kiện để yêu cầu thực hiện di chúc;
- Việc phân chia và xác lập quyền sở hữu đối với di sản không còn phụ thuộc vào nội dung di chúc mà phụ thuộc vào tình trạng quản lý, chiếm hữu thực tế theo quy định của pháp luật.
Nói cách khác, di chúc vẫn tồn tại về mặt pháp lý nhưng giá trị thực thi của di chúc đã chấm dứt do hết thời hiệu thừa kế.
3. Những lưu ý quan trọng để đảm bảo giá trị hiệu lực của di chúc:
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, không ít di chúc dù được lập với thiện chí và mong muốn rõ ràng của người để lại di sản nhưng vẫn không được công nhận hoặc không thể thực hiện, do vi phạm điều kiện pháp luật hoặc do người thừa kế không kịp thời thực hiện quyền của mình. Vì vậy, việc lập và quản lý di chúc cần được nhìn nhận không chỉ là một hành vi pháp lý đơn lẻ mà là một quá trình cần được thực hiện cẩn trọng và có sự dự liệu lâu dài. Cụ thể như sau:
3.1. Lập di chúc khi còn minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn tự nguyện:
Điều kiện quan trọng nhất để di chúc có giá trị pháp lý là ý chí tự nguyện và năng lực hành vi dân sự đầy đủ của người lập di chúc. Trên thực tế, rất nhiều di chúc bị tuyên vô hiệu do không chứng minh được người lập di chúc còn minh mẫn tại thời điểm lập. Do đó, người có tài sản nên:
- Lập di chúc khi sức khỏe và tinh thần ổn định mà không chờ đến khi ốm nặng hoặc nguy kịch;
- Tránh lập di chúc trong tình trạng bị phụ thuộc, chịu tác động hoặc áp lực từ người khác;
- Trong trường hợp tuổi cao, bệnh tật thì cần có xác nhận y tế hoặc lập di chúc tại cơ quan công chứng để tăng giá trị chứng minh.
Việc chủ động lập di chúc sớm không chỉ bảo đảm hiệu lực pháp lý mà còn hạn chế tối đa nguy cơ tranh chấp về sau.
3.2. Tuân thủ chặt chẽ quy định về hình thức của di chúc:
Hình thức là yếu tố thường xuyên bị xem nhẹ nhưng lại là nguyên nhân phổ biến khiến di chúc không được công nhận. Người lập di chúc cần lưu ý:
- Ưu tiên di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực do đây là hình thức di chúc đảm bảo và hạn chế tranh chấp nhất;
- Nếu lập di chúc viết tay, phải bảo đảm chữ viết, chữ ký của chính người lập di chúc, nội dung rõ ràng, không tẩy xóa;
- Chỉ lập di chúc miệng trong trường hợp đặc biệt theo đúng điều kiện luật định và cần được ghi chép, xác nhận kịp thời.
Tuân thủ đúng hình thức không chỉ giúp di chúc hợp pháp mà còn giảm thiểu tranh cãi về tính xác thực của di chúc.
3.3. Xác định rõ ràng di sản và quyền sở hữu đối với tài sản:
Một di chúc có giá trị pháp lý cao cần xác định cụ thể và chính xác di sản được để lại. Nhiều tranh chấp phát sinh do di chúc mô tả tài sản chung chung, không rõ phạm vi, nguồn gốc hoặc tình trạng pháp lý của tài sản. Người lập di chúc nên:
- Ghi rõ loại tài sản, vị trí, đặc điểm hoặc các giấy tờ pháp lý liên quan;
- Phân biệt rõ tài sản riêng và tài sản chung;
- Chỉ định đoạt đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình.
Việc xác định rõ di sản giúp di chúc dễ thực hiện và hạn chế nguy cơ bị tuyên vô hiệu một phần.
3.4. Chỉ định người thừa kế và cách phân chia một cách cụ thể, hợp lý:
Di chúc cần thể hiện rõ:
- Ai là người được hưởng di sản;
- Hưởng bao nhiêu, theo hình thức nào;
- Có điều kiện kèm theo hay không.
Ngoài ra, người lập di chúc cũng cần lưu ý đến quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 (như con chưa thành niên, cha mẹ già yếu…). Việc bỏ qua quyền lợi này có thể khiến di chúc bị hạn chế hiệu lực khi thực hiện. Một di chúc được phân chia hợp lý, công bằng về lợi ích thường giảm đáng kể nguy cơ phát sinh tranh chấp.
3.5. Thực hiện thủ tục thừa kế đúng thời hiệu:
Di chúc chỉ thực sự có giá trị khi người thừa kế chủ động thực hiện quyền của mình trong thời hiệu luật định. Việc chậm trễ có thể dẫn đến hậu quả mất quyền yêu cầu chia di sản (dù di chúc có hợp pháp). Người được hưởng di sản theo di chúc cần:
- Kịp thời thực hiện thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản;
- Chủ động bảo vệ quyền lợi khi có dấu hiệu tranh chấp;
- Tìm đến luật sư khi cần thiết để tránh rủi ro pháp lý.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


