Trong các thủ tục liên quan đến thừa kế, hình thức của di chúc luôn là yếu tố được đặc biệt quan tâm bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến ý nguyện của người để lại tài sản không được thực hiện. Thực tế cho thấy, nhiều người khi lập di chúc thường phân vân không biết nên ký tên hay phải lăn dấu vân tay, thậm chí cho rằng thiếu điểm chỉ thì di chúc sẽ không có giá trị. Vậy: Lập di chúc có cần phải điểm chỉ, lăn dấu vân tay không?
Mục lục bài viết
1. Lập di chúc có cần phải điểm chỉ, lăn dấu vân tay không?
Trong thực tiễn, nhiều người cho rằng khi lập di chúc bắt buộc phải lăn dấu vân tay (điểm chỉ) thì di chúc mới có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, đây là cách hiểu chưa hoàn toàn chính xác.
Việc ký tên hay điểm chỉ trong di chúc cần được xem xét theo từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nội dung của di chúc, theo đó:
(1) Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
(2) Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
(3) Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Và Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
- Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng;
- Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc;
- Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật Dân sự 2015.
Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng, trường hợp người lập di chúc không tự tay viết được di chúc thì có thể tự đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy nội dung di chúc. Tuy nhiên trong trường hợp này, di chúc bắt buộc phải có ít nhất 02 người làm chứng. Người lập di chúc phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, và những người làm chứng có trách nhiệm xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ đó, đồng thời ký tên vào di chúc để xác nhận tính xác thực.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định chặt chẽ về hình thức của di chúc bằng văn bản. Di chúc không được viết tắt, không được viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang đều phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có tẩy xóa, sửa chữa thì người lập di chúc hoặc người làm chứng phải ký tên bên cạnh phần bị tẩy xóa, sửa chữa để bảo đảm tính minh bạch và tránh tranh chấp về sau.
Từ các quy định nêu trên có thể thấy rằng, điểm chỉ (lăn dấu vân tay) KHÔNG luôn luôn là yêu cầu bắt buộc khi lập di chúc. Pháp luật cho phép người lập di chúc lựa chọn một trong hai hình thức là ký tên hoặc điểm chỉ. Trong trường hợp người lập di chúc có khả năng ký tên thì việc ký tên là hoàn toàn hợp pháp và không bắt buộc phải lăn tay. Ngược lại, trong trường hợp người lập di chúc không thể ký tên nhưng vẫn còn khả năng nhận thức và có thể điểm chỉ thì điểm chỉ trở thành hình thức bắt buộc để xác lập ý chí của người lập di chúc.
Như vậy: Lăn dấu vân tay trong di chúc được hiểu là một phương thức thay thế chữ ký khi người lập di chúc không ký được hoặc là sự lựa chọn hợp pháp của người lập di chúc trong việc thể hiện ý chí của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc có lăn tay hay không mà ở chỗ di chúc có đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật hay không (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
2. Lập di chúc công chứng, có thể đồng thời vừa ký tên vừa lăn dấu vân tay không?
Điều 50 Luật Công chứng 2024 quy định về ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng. Theo đó:
- Người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào từng trang của giao dịch trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và trường hợp người yêu cầu công chứng không ký được và không điểm chỉ được. Việc ký văn bản công chứng điện tử thực hiện theo quy định của Chính phủ. Việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu trữ trong hồ sơ công chứng.
- Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết giao dịch của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào văn bản giao dịch; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong văn bản giao dịch với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng.
- Việc đăng ký chữ ký mẫu được thực hiện trực tiếp tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc bằng văn bản chính thức có chữ ký trực tiếp của người đăng ký và đóng dấu của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đó.
- Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được. Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng vân tay của ngón trỏ phải; nếu không sử dụng được vân tay của ngón trỏ phải thì sử dụng vân tay của ngón trỏ trái; trường hợp không thể sử dụng vân tay của 02 ngón trỏ đó thì sử dụng vân tay của ngón khác và công chứng viên phải ghi rõ trong lời chứng việc người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng vân tay của ngón nào, của bàn tay nào để điểm chỉ.
- Việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký trong những trường hợp sau đây:
+ Công chứng di chúc;
+ Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
+ Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Như vây: Đối với di chúc công chứng, việc điểm chỉ có thể ĐƯỢC thực hiện đồng thời với việc ký tên.
3. Di chúc không điểm chỉ, lăn dấu vân tay có bị vô hiệu không?
Trong thực tiễn tư vấn và giải quyết tranh chấp thừa kế, một trong những thắc mắc phổ biến nhất là: Di chúc không điểm chỉ, không lăn dấu vân tay thì có còn giá trị pháp lý hay không? Để trả lời chính xác, cần phân biệt rõ từng trường hợp cụ thể thay vì áp dụng máy móc quan niệm “di chúc phải lăn tay mới hợp pháp”. Cụ thể như sau:
3.1. Di chúc chỉ ký tên, không lăn tay có hợp pháp không?
Pháp luật dân sự không bắt buộc di chúc phải có điểm chỉ trong mọi trường hợp. Nếu người lập di chúc có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, minh mẫn, sáng suốt và có khả năng ký tên thì chữ ký của người lập di chúc đã đủ để xác lập giá trị pháp lý của di chúc với điều kiện các yếu tố khác về hình thức và nội dung đều hợp pháp.
Trong trường hợp này, việc di chúc chỉ có chữ ký mà không lăn dấu vân tay không làm phát sinh căn cứ để tuyên di chúc vô hiệu. Trên thực tế, rất nhiều di chúc viết tay hoặc đánh máy được lập hợp pháp chỉ có chữ ký của người lập di chúc mà vẫn được Tòa án công nhận và thi hành.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong các vụ việc có tranh chấp, chữ ký thường là đối tượng bị nghi ngờ giả mạo. Do đó, dù không bắt buộc, việc kết hợp ký tên và điểm chỉ vẫn được xem là biện pháp an toàn pháp lý cao hơn.
3.2. Hậu quả pháp lý đối với di chúc không ký, không điểm chỉ:
Trường hợp di chúc không có chữ ký và cũng không có điểm chỉ của người lập di chúc là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng về mặt hình thức. Khi đó, di chúc không thể hiện được sự xác nhận cuối cùng về ý chí của người lập di chúc; đồng nghĩa với việc không đáp ứng điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Trong thực tiễn xét xử, các di chúc không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc thường bị tuyên vô hiệu toàn bộ, ngoại trừ trường hợp pháp luật có quy định đặc biệt khác (ví dụ di chúc miệng hợp pháp). Khi di chúc bị tuyên vô hiệu, di sản sẽ không được chia theo nội dung di chúc mà phải chuyển sang chia theo pháp luật.
Do đó, việc thiếu cả chữ ký và điểm chỉ là lỗi hình thức không thể khắc phục, dẫn đến hậu quả pháp lý rất lớn cho người được chỉ định hưởng thừa kế.
3.3. Trường hợp di chúc bị tranh chấp do thiếu chữ ký hoặc điểm chỉ:
Trong nhiều vụ tranh chấp thừa kế, di chúc không bị vô hiệu ngay từ đầu nhưng lại trở thành đối tượng tranh chấp gay gắt do thiếu chữ ký hoặc điểm chỉ rõ ràng. Các bên thường cho rằng di chúc không phản ánh đúng ý chí của người để lại di sản hoặc chữ ký trong di chúc không phải do người lập di chúc thực hiện.
Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét toàn diện các yếu tố như: Tình trạng sức khỏe, nhận thức của người lập di chúc tại thời điểm lập; lời khai của người làm chứng (nếu có); tính thống nhất của nội dung di chúc với các tài liệu, chứng cứ khác; cũng như việc di chúc có được lập công chứng, chứng thực hay không… Nếu không đủ căn cứ chứng minh di chúc là hợp pháp, Tòa án có thể tuyên di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc một phần.
Chính vì vậy, trong thực tế di chúc không điểm chỉ tuy chưa chắc đã vô hiệu nhưng lại tiềm ẩn rủi ro tranh chấp rất cao; đặc biệt đối với di chúc lập khi người để lại di sản tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc tài sản có giá trị lớn.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


