Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc người nước ngoài sinh sống, làm việc và sở hữu tài sản tại Việt Nam đã trở nên phổ biến. Cùng với đó, các quan hệ pháp lý liên quan đến tài sản, đặc biệt là vấn đề thừa kế, cũng ngày càng đa dạng và phức tạp. Khi mong muốn định đoạt tài sản của mình, không ít người nước ngoài lựa chọn lập di chúc ngay tại Việt Nam. Vậy, hiệu lực của di chúc của người nước ngoài lập tại Việt Nam được quy định thế nào?
Mục lục bài viết
1. Hiệu lực di chúc của người nước ngoài lập tại Việt Nam:
Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về phạm vi áp dụng như sau:
- Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài;
- Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Điều 671 của Bộ luật Dân sự 2015 thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật Dân sự 2015 được áp dụng;
- Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Và Điều 664 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
- Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam;
- Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên;
- Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 664 Bộ luật Dân sự 2015 thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.
Đối chiếu với khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015: Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời. Pháp luật hiện hành quy định di chúc có thể được lập dưới hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng, trong đó di chúc bằng văn bản là hình thức chủ yếu và được ưu tiên áp dụng. Chỉ trong trường hợp đặc biệt, khi người lập di chúc không thể lập di chúc bằng văn bản thì di chúc miệng mới được thừa nhận.
Trong thực tiễn, không phải mọi di chúc đều mang tính chất thuần túy trong nước. Di chúc có yếu tố nước ngoài là di chúc có một hoặc nhiều yếu tố liên quan đến nước ngoài, thể hiện ở chủ thể, đối tượng hoặc phạm vi tài sản thừa kế. Cụ thể, đó có thể là:
- Trường hợp người để lại di sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Người thừa kế là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Hoặc tài sản để lại thừa kế được xác lập, tồn tại ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Những yếu tố này làm cho việc xác định hiệu lực của di chúc trở nên phức tạp hơn và đòi hỏi phải được xem xét trên cơ sở các quy định pháp luật có liên quan.
Như vậy: Di chúc của người nước ngoài lập tại Việt Nam phát sinh hiệu lực vào thời điểm mở thừa kế (người lập di chúc qua đời).
2. Người nước ngoài có thể lập di chúc tại Việt Nam không?
Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người lập di chúc như sau:
- Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật Dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Và Điều 681 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thêm:
- Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc;
- Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập. Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây:
- Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
- Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
- Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản.
Theo đó, hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập.
Do đó, pháp luật Việt Nam không đặt ra bất kỳ quy định nào cấm người nước ngoài lập di chúc tại Việt Nam. Người nước ngoài hoàn toàn ĐƯỢC quyền xác lập di chúc để định đoạt tài sản của mình khi đang cư trú, sinh sống hoặc có tài sản tại Việt Nam.
Tuy nhiên, để di chúc do người nước ngoài lập tại Việt Nam được công nhận và có hiệu lực pháp lý, cần đáp ứng những điều kiện nhất định. Theo đó, hình thức của di chúc phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, trong khi năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người lập di chúc phải được xác định theo pháp luật của quốc gia mà người đó mang quốc tịch. Chỉ khi đồng thời bảo đảm các điều kiện này thì di chúc mới được pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ.
3. Điều kiện di chúc có yếu tố nước ngoài có hiệu lực là gì?
Điều kiện để di chúc có yếu tố nước ngoài có hiệu lực là vấn đề quan trọng, bởi hiệu lực của di chúc không chỉ phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc mà còn chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật có liên quan đến yếu tố quốc tịch.
Thứ nhất, về năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc. Căn cứ khoản 1 Điều 681 Bộ luật Dân sự năm 2015, năng lực lập di chúc cũng như năng lực thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc, được xác định theo pháp luật của quốc gia mà người lập di chúc mang quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm việc đánh giá năng lực của người lập di chúc được thực hiện thống nhất và phù hợp với hệ thống pháp luật mà người đó là công dân.
Thứ hai, đối với người để lại di sản mang quốc tịch Việt Nam. Di chúc chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Bao gồm:
- Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt tại thời điểm lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức của di chúc phải phù hợp với các quy định của pháp luật về di chúc.
Thứ ba, đối với người để lại di sản mang quốc tịch nước ngoài. Việc xác định điều kiện về năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc phải căn cứ vào pháp luật của quốc gia mà người đó mang quốc tịch. Đồng thời, khi di chúc được lập tại Việt Nam hoặc liên quan đến tài sản tại Việt Nam, hình thức của di chúc vẫn cần phù hợp với các quy định pháp luật Việt Nam để được công nhận và bảo vệ.
Như vậy: Di chúc có yếu tố nước ngoài chỉ có hiệu lực khi đồng thời đáp ứng đúng các điều kiện về năng lực của người lập di chúc và hình thức, nội dung của di chúc theo hệ thống pháp luật tương ứng.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


