Hoàn toàn có thể để lại di chúc cho người dưng ngoài gia đình nhưng không phải trong mọi trường hợp ý chí đó đều được thực hiện trọn vẹn. Pháp luật tôn trọng quyền định đoạt tài sản của cá nhân thông qua di chúc, song đồng thời đặt ra những giới hạn nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể đặc biệt trong gia đình. Vậy: Được để lại di chúc cho người dưng ngoài gia đình không?
Mục lục bài viết
1. Được để lại di chúc cho người dưng ngoài gia đình không?
Di chúc là văn bản thể hiện ý chí cuối cùng của người có tài sản nhằm định đoạt việc chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời. Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân. Do đó người lập di chúc hoàn toàn có quyền quyết định để lại di sản cho bất kỳ ai, miễn là tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.
Pháp luật hiện hành không hạn chế chủ thể được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc. Bởi lẽ, di chúc là sự thể hiện ý nguyện cá nhân của người để lại di sản nên việc lựa chọn người thừa kế; dù là người thân trong gia đình hay người không có quan hệ huyết thống thì đều được pháp luật tôn trọng. Theo đó người ngoài, người dưng hay bất kỳ cá nhân nào khác đều có thể trở thành người thừa kế nếu đó là mong muốn hợp pháp của người lập di chúc và không ai có quyền ngăn cản, cản trở ý chí này.
Điều 626 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền của người lập di chúc. Theo đó, người lập di chúc có quyền như sau:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Tuy nhiên, ý chí định đoạt tài sản chỉ được pháp luật bảo vệ khi di chúc hợp pháp. Một bản di chúc chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015):
- Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong suốt quá trình lập di chúc và hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép;
- Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định pháp luật;
- Đồng thời, việc định đoạt tài sản không được vượt quá phạm vi quyền sở hữu của người lập di chúc.
Trên thực tế, rất nhiều di chúc không thể thực hiện được do vượt quá phạm vi quyền định đoạt. Chẳng hạn, đối với tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nếu vợ chồng không có thỏa thuận xác lập tài sản riêng thì tài sản đó được xác định là tài sản chung. Khi đó, mỗi bên vợ hoặc chồng chỉ có quyền định đoạt đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Trường hợp một bên tự ý lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà là tài sản chung cho người khác thì phần di chúc vượt quá phạm vi định đoạt sẽ không có giá trị thi hành.
Bên cạnh đó, một vấn đề đặc biệt quan trọng cần được lưu ý là chế định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo quy định của pháp luật, có một số chủ thể dù không được chỉ định trong di chúc, thậm chí bị loại trừ khỏi di chúc thì vẫn đương nhiên được hưởng một phần di sản theo pháp luật. Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Theo đó, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó:
- Con chưa thành niên;
- Cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Như vậy: Người lập di chúc hoàn toàn CÓ QUYỀN để lại tài sản của mình cho người ngoài (không phải người trong gia đình). Tuy nhiên, người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc sẽ không được hưởng trọn vẹn toàn bộ di sản trong trường hợp còn tồn tại những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 Bộ luật Dân ự 2015) bởi pháp luật buộc phải ưu tiên bảo đảm quyền lợi tối thiểu cho các chủ thể này.
2. Người dưng ngoài gia đình có được thừa kế tài sản nếu không có di chúc không?
Bên cạnh các trường hợp di sản được phân chia theo di chúc, một vấn đề thường gặp trong thực tiễn là xử lý tài sản thừa kế khi người chết không để lại di chúc hoặc di chúc bị tuyên không hợp pháp. Trong những trường hợp này, việc phân chia di sản không còn phụ thuộc vào ý chí của người để lại tài sản mà phải tuân thủ hoàn toàn theo quy định của pháp luật (Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015)
Cụ thể, pháp luật xác định 03 hàng thừa kế theo mức độ quan hệ huyết thống và hôn nhân với người để lại di sản (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015). Bao gồm:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Từ việc xác định rõ các hàng thừa kế có thể thấy rằng, người ngoài (những người không có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng hợp pháp với người để lại di sản) không thuộc bất kỳ hàng thừa kế nào. Do đó, trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật, người ngoài không có quyền hưởng thừa kế dù trên thực tế có thể có quan hệ tình cảm, chăm sóc hay gắn bó với người chết.
Như vậy: Pháp luật cho phép người để lại di sản được định đoạt tài sản cho người ngoài thông qua di chúc hợp pháp. Ngược lại, nếu việc thừa kế được giải quyết theo pháp luật do không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ thì chỉ những người thuộc các hàng thừa kế theo quy định mới được hưởng di sản, còn người ngoài sẽ KHÔNG ĐƯỢC pháp luật công nhận quyền thừa kế.
3. Người ngoài gia đình có được hưởng thừa kế theo di chúc miệng không?
Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
Và Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc miệng. Theo đó:
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng;
- Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Theo đó, di chúc miệng là hình thức di chúc được lập bằng lời nói và chỉ được pháp luật công nhận trong trường hợp đặc biệt khi người để lại di sản đang đứng trước nguy cơ chết và không thể lập di chúc bằng văn bản. Nói cách khác, đây là giải pháp “bất khả kháng” để ghi nhận ý chí cuối cùng của người có tài sản khi các điều kiện bình thường không cho phép lập di chúc viết tay, đánh máy hay công chứng.
Về điều kiện có hiệu lực, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt tại thời điểm trăng trối; nội dung di chúc được thể hiện rõ ràng, cụ thể; và phải có ít nhất 02 người làm chứng nghe trực tiếp toàn bộ nội dung di chúc. Sau khi người để lại di sản tuyên bố di chúc miệng, những người làm chứng có nghĩa vụ ghi chép lại nội dung di chúc, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Đặc biệt trong thời hạn 05 ngày làm việc, bản ghi chép này phải được công chứng hoặc chứng thực nếu không thì di chúc miệng sẽ không có giá trị pháp lý.
Như vậy: Người ngoài CÓ THỂ ĐƯỢC hưởng thừa kế di sản theo hình thức di chúc miệng. Tuy nhiên, di chúc miệng phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện hợp pháp của pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


