Trong thực tế, nhiều người lập di chúc nhiều lần để định đoạt tài sản nhưng không phải ai cũng hiểu rõ giá trị pháp lý của từng bản di chúc. Khi người để lại di sản qua đời, các đồng thừa kế thường phát sinh tranh chấp về việc bản di chúc nào có hiệu lực, đặc biệt trong trường hợp tồn tại nhiều bản di chúc với nội dung khác nhau. Vậy: Chỉ bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực đúng không?
Mục lục bài viết
- 1 1. Chỉ bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực đúng không?
- 2 2. Vì sao khi định đoạt một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực?
- 3 3. Trường hợp di chúc sau cùng vô hiệu thì có được sử dụng bản di chúc liền kề không?
- 4 4. Có được lập nhiều bản di chúc cho một tài sản hay không?
- 5 5. Có bắt buộc phải hủy bỏ di chúc cũ khi lập di chúc mới không?
1. Chỉ bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực đúng không?
Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 về hiệu lực của di chúc như sau:
(1) Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
(2) Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
(3) Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
(4) Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
(5) Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Về nguyên tắc, trong trường hợp một người lập nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc được lập sau cùng và hợp pháp mới có hiệu lực thi hành. Các bản di chúc trước đó sẽ không còn giá trị đối với phần tài sản đã được định đoạt lại.
2. Vì sao khi định đoạt một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực?
Theo khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Quy định này xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây của các nhà lập pháp:
- Thứ nhất, nhằm bảo đảm tôn trọng tối đa ý chí sau cùng của người để lại di sản. Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân về việc định đoạt tài sản sau khi chết, và ý chí này có thể thay đổi theo thời gian do biến động về hoàn cảnh sống, tài sản, quan hệ gia đình hoặc nhận thức của người lập di chúc. Bản di chúc được lập sau cùng phản ánh ý chí gần nhất, cập nhật nhất và sát thực tế nhất của người để lại di sản tại thời điểm cuối đời. Việc pháp luật ưu tiên hiệu lực của di chúc sau cùng thể hiện nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt tài sản và bảo vệ ý chí thực sự, cuối cùng của người đã khuất, thay vì duy trì những quyết định có thể đã không còn phù hợp.
- Thứ hai, nhằm bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất và khả năng thi hành trong việc phân chia di sản. Nếu cho phép nhiều bản di chúc cùng lúc có hiệu lực đối với một tài sản, việc xác định người hưởng di sản, phạm vi tài sản và tỷ lệ phân chia sẽ trở nên chồng chéo, mâu thuẫn và khó thực hiện. Điều này không chỉ gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết thừa kế mà còn làm gia tăng tranh chấp giữa những người thừa kế. Quy định chỉ công nhận bản di chúc sau cùng giúp đơn giản hóa việc áp dụng, tạo ra một căn cứ rõ ràng, thống nhất để phân chia di sản, từ đó bảo đảm tính ổn định và trật tự trong quan hệ thừa kế.
- Thứ ba, nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng các bản di chúc cũ để phủ nhận hoặc làm sai lệch ý chí đã được thay đổi. Trong thực tế, các bản di chúc được lập trước thường tồn tại trong thời gian dài, có thể không còn phản ánh đúng mong muốn của người lập di chúc, nhưng lại dễ bị viện dẫn để bảo vệ lợi ích của một số người thừa kế. Việc pháp luật quy định chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực giúp loại bỏ khả năng lợi dụng các di chúc cũ nhằm làm trái với ý chí đã được điều chỉnh, bổ sung sau này; qua đó hạn chế gian lận và tranh chấp phát sinh.
- Thứ tư, bảo đảm sự linh hoạt trong quyền lập, sửa đổi và định đoạt di chúc. Quy định này cho phép người lập di chúc yên tâm rằng họ có thể thay đổi quyết định định đoạt tài sản bất cứ lúc nào trong suốt cuộc đời mà không bị ràng buộc bởi các di chúc đã lập trước đó. Người lập di chúc không cần thực hiện các thủ tục phức tạp để hủy bỏ di chúc cũ, mà chỉ cần thể hiện ý chí mới của mình một cách hợp pháp. Điều này khuyến khích việc lập di chúc, đồng thời bảo đảm quyền tự do định đoạt tài sản được thực hiện một cách đầy đủ và linh hoạt.
3. Trường hợp di chúc sau cùng vô hiệu thì có được sử dụng bản di chúc liền kề không?
Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng: “Nếu bản di chúc sau cùng bị tuyên vô hiệu toàn bộ thì việc phân chia di sản thừa kế sẽ không căn cứ vào bản di chúc này. Khi đó, di sản sẽ được giải quyết theo bản di chúc liền kề trước đó còn hiệu lực pháp luật nếu bản di chúc này đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính hợp pháp theo quy định.”
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng quan điểm này là không phù hợp. Về bản chất, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân của người lập di chúc nhằm định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời. Trong suốt cuộc đời, một cá nhân có quyền lập nhiều bản di chúc khác nhau cũng như quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập (tùy thuộc vào sự thay đổi về hoàn cảnh sống, tài sản…).
Các bản di chúc chỉ phát sinh hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết) và bản di chúc sau cùng chính là sự thể hiện ý chí cuối cùng của người lập di chúc tại thời điểm đó. Việc bản di chúc sau cùng bị tuyên vô hiệu đồng nghĩa với việc ý chí cuối cùng của người để lại di sản không đủ điều kiện để được pháp luật công nhận.
Trong trường hợp này, nếu vẫn tiếp tục áp dụng bản di chúc liền kề trước đó thì vô hình chung pháp luật lại thừa nhận và thực hiện một ý chí đã bị người lập di chúc thay thế hoặc không còn mong muốn duy trì, đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng ý chí sau cùng của người đã khuất. Do đó, việc quay trở lại áp dụng bản di chúc trước đó khi bản di chúc sau cùng bị vô hiệu là không phản ánh đúng ý chí của người lập di chúc mà chỉ là giải pháp mang tính hình thức, tiềm ẩn nguy cơ làm sai lệch mong muốn thực sự của người để lại di sản.
Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Vì vậy, nếu bản di chúc sau cùng bị vô hiệu toàn phần/hoặc một phần thì phần bị vô hiệu sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.
4. Có được lập nhiều bản di chúc cho một tài sản hay không?
Theo quy định pháp luật, di chúc bằng văn bản là loại di chúc được lập dưới dạng chữ viết (viết tay hoặc đánh máy) có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền Nhà nước.
Theo Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có công chứng;
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Mỗi loại di chúc phải thỏa mãn các điều kiện luật định, cụ thể: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng quy định tại Điều 633, Bộ luật Dân sự năm 2015; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng quy định tại Điều 634, Bộ luật Dân sự 2015; Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực quy định tại Điều 635, Bộ luật Dân sự 2015. Người lập di chúc khi lập, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ cần nắm được các quy định này thì việc lập, sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ mới có hiệu lực pháp luật.
Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về vấn đề sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc:
- Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào;
- Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật;
- Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
Bên cạnh đó, tại Khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Như vậy: Pháp luật không cấm một người lập nhiều di chúc cho tài sản. Hay nói cách khác, một người CÓ thể lập nhiều bản di chúc để định đoạt một hoặc nhiều tài sản khác nhau khi họ còn sống.
5. Có bắt buộc phải hủy bỏ di chúc cũ khi lập di chúc mới không?
Căn cứ theo các cơ sở pháp lý như sau:
- Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
- Khoản 3 Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
- Khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hiệu lực của di chúc: Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực”.
Trong thực tế, nhiều người cho rằng khi lập di chúc mới thì bắt buộc phải hủy bỏ hoặc tuyên bố chấm dứt hiệu lực của các bản di chúc đã lập trước đó. Tuy nhiên, cách hiểu này không hoàn toàn chính xác. Việc lập di chúc mới không đồng nghĩa với nghĩa vụ phải hủy bỏ di chúc cũ, bởi mỗi bản di chúc được xem xét hiệu lực một cách độc lập, căn cứ vào nội dung và phạm vi định đoạt của người lập di chúc.
Về bản chất, di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản tại từng thời điểm cụ thể. Khi người lập di chúc thay đổi, bổ sung hoặc điều chỉnh ý chí định đoạt tài sản, họ có thể lựa chọn lập một bản di chúc mới mà không cần tuyên bố hủy bỏ toàn bộ các di chúc đã lập trước đó. Trong trường hợp nội dung của di chúc mới trùng lặp hoặc mâu thuẫn với di chúc cũ đối với cùng một tài sản, thì phần nội dung được định đoạt sau sẽ được ưu tiên xem xét. Ngược lại, những nội dung không bị thay đổi hoặc không được đề cập lại trong di chúc mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện hợp pháp.
Cách tiếp cận này phản ánh nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập di chúc ở từng thời điểm và tránh việc “phủ nhận toàn bộ” các quyết định trước đó chỉ vì có sự xuất hiện của một bản di chúc mới. Trên thực tế, nhiều người chỉ có nhu cầu điều chỉnh một phần tài sản, thay đổi người hưởng di sản đối với một tài sản cụ thể, hoặc bổ sung thêm nội dung mới mà không có ý định thay đổi toàn bộ các định đoạt đã được xác lập trước đó. Việc không bắt buộc hủy bỏ di chúc cũ tạo điều kiện để ý chí của người lập di chúc được ghi nhận một cách linh hoạt và phù hợp với thực tế biến động về tài sản và quan hệ gia đình.
Tuy nhiên, việc tồn tại nhiều bản di chúc cũng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp nếu nội dung không được thể hiện rõ ràng hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn. Do đó, dù không bắt buộc phải hủy bỏ di chúc cũ, nhưng trong thực tiễn, người lập di chúc nên thể hiện rõ phạm vi điều chỉnh của di chúc mới, tránh để lại khoảng trống pháp lý hoặc cách hiểu khác nhau về hiệu lực của từng bản di chúc.
Như vậy: Lập di chúc mới KHÔNG bắt buộc phải hủy bỏ di chúc cũ. Hiệu lực của từng bản di chúc được xác định trên cơ sở nội dung cụ thể và ý chí thực sự của người lập di chúc, trong đó những định đoạt sau cùng sẽ được ưu tiên đối với phần tài sản có sự thay đổi. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính linh hoạt trong việc định đoạt tài sản, vừa tôn trọng tối đa ý chí của người để lại di sản.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


