Di chúc miệng là hình thức di chúc đặc biệt, chỉ được pháp luật thừa nhận trong những trường hợp thật sự khẩn cấp và phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện về hoàn cảnh lập di chúc, người làm chứng cũng như trình tự, thủ tục theo quy định. Vậy: Những trường hợp di chúc miệng vô hiệu hay gặp trên thực tế gồm những trường hợp nào?
Mục lục bài viết
- 1 1. Di chúc miệng vô hiệu là gì?
- 2 2. Các trường hợp di chúc miệng vô hiệu hay gặp trên thực tế:
- 3 3. Những rủi ro pháp lý thường gặp khi lập di chúc miệng:
- 3.1 3.1. Rủi ro về số lượng và tư cách pháp lý của người làm chứng:
- 3.2 3.2. Không thực hiện đúng trình tự ghi chép, ký xác nhận và công chứng, chứng thực trong thời hạn:
- 3.3 3.3. Khó khăn trong việc chứng minh ý chí đích thực của người để lại di sản:
- 3.4 3.4. Rủi ro bị Tòa án tuyên vô hiệu toàn bộ di chúc:
- 3.5 3.5. Hệ quả pháp lý và xã hội phát sinh từ tranh chấp di chúc miệng:
1. Di chúc miệng vô hiệu là gì?
Pháp luật Việt Nam công nhận di chúc miệng là hợp pháp, tuy nhiên khi lập di chúc miệng cần có những điều kiện cụ thể nhằm đảm bảo tính khách quan của di chúc sau khi người lập di chúc chết. Theo Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 về di chúc miệng quy định như sau:
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng;
- Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Ngoài ra, tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Như vậy, pháp luật đặt ra hàng loạt điều kiện nghiêm ngặt nhằm tránh việc lợi dụng hình thức di chúc miệng để trục lợi hoặc làm sai lệch ý chí của người đã khuất.
Đồng thời, Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự” là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Và Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự 2015 thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
Di chúc cũng được xác định là một hình thức của giao dịch dân sự, cụ thể là “hành vi pháp lý đơn phương”. Có thể đưa ra khái niệm:
“Di chúc miệng vô hiệu là trường hợp di chúc được xác lập bằng lời nói nhưng không đáp ứng các điều kiện về chủ thể, hoàn cảnh lập di chúc, hình thức hoặc trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, dẫn đến việc di chúc đó không làm phát sinh hiệu lực pháp lý. Khi di chúc miệng bị tuyên vô hiệu, ý chí định đoạt tài sản của người để lại di sản không được pháp luật công nhận và bảo vệ; đồng thời di sản thừa kế sẽ được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.”
2. Các trường hợp di chúc miệng vô hiệu hay gặp trên thực tế:
Di chúc miệng là hình thức di chúc đặc biệt, chỉ được pháp luật thừa nhận trong những hoàn cảnh hết sức hạn chế và chịu sự điều chỉnh bởi các điều kiện nghiêm ngặt về chủ thể, hình thức và thủ tục. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, đa số các di chúc miệng đều không được Tòa án công nhận do vi phạm một hoặc nhiều điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Dưới đây là những trường hợp di chúc miệng vô hiệu thường gặp:
a. Người lập di chúc không thuộc trường hợp được phép lập di chúc miệng:
Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Tuy nhiên trên thực tế, nhiều người vẫn còn tỉnh táo, minh mẫn, có khả năng viết, ký tên hoặc nhờ người khác lập di chúc bằng văn bản nhưng vẫn để lại di chúc miệng.
Trong những trường hợp này, khi tranh chấp phát sinh, Tòa án sẽ xem xét các chứng cứ như hồ sơ bệnh án, lời khai của người làm chứng, tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh lập di chúc. Nếu xác định người lập di chúc vẫn có khả năng lập di chúc bằng văn bản thì di chúc miệng sẽ bị tuyên vô hiệu do không đáp ứng điều kiện về hoàn cảnh lập di chúc.
b. Người lập di chúc không minh mẫn, không tự nguyện tại thời điểm lập di chúc miệng:
Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Một trong những điều kiện có hiệu lực của di chúc là người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn tự nguyện. Trên thực tế, nhiều di chúc miệng được lập trong thời điểm người để lại di sản đang trong tình trạng hôn mê, sử dụng thuốc an thần liều cao hoặc bị tác động tâm lý nghiêm trọng.
Ngoài ra, cũng có những trường hợp người lập di chúc bị ép buộc, đe dọa hoặc bị định hướng nội dung di chúc bởi người thân có quyền lợi liên quan. Khi có căn cứ chứng minh các yếu tố này thì di chúc miệng sẽ bị tuyên vô hiệu theo quy định về giao dịch dân sự vô hiệu.
c. Không đủ số lượng người làm chứng theo quy định pháp luật:
Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng..
Tuy nhiên, trong thực tế, tại thời điểm người lập di chúc sắp qua đời, thường chỉ có một người chứng kiến hoặc không xác định rõ có đủ hai người làm chứng đồng thời hay không. Việc không bảo đảm đủ số lượng người làm chứng là lỗi hình thức phổ biến khiến di chúc miệng không đáp ứng điều kiện hợp pháp và bị tuyên vô hiệu, dù nội dung di chúc có thể phù hợp với ý chí thực sự của người để lại di sản.
d. Người làm chứng không đủ điều kiện theo luật định:
Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ các trường hợp không được làm chứng cho việc lập di chúc, bao gồm:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Trong thực tiễn, người làm chứng thường là người thân thích như con, cháu, anh chị em… – vốn lại là những người có quyền hưởng di sản. Khi người làm chứng thuộc các trường hợp bị cấm này, di chúc miệng sẽ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về tư cách người làm chứng.
e. Không ghi chép lại nội dung di chúc miệng ngay sau khi được thể hiện:
Pháp luật yêu cầu ngay sau khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại đầy đủ, trung thực nội dung di chúc. Tuy nhiên, nhiều trường hợp chỉ truyền miệng lại nội dung di chúc sau một thời gian dài hoặc ghi chép không đầy đủ, không rõ ràng, không xác định cụ thể người hưởng di sản, tài sản để lại và tỷ lệ phân chia.
Việc không ghi chép kịp thời và đầy đủ nội dung di chúc miệng khiến di chúc không bảo đảm tính xác thực dẫn đến việc không được pháp luật công nhận.
f. Không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng:
Sau khi ghi chép lại nội dung di chúc miệng, pháp luật yêu cầu người làm chứng phải cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi nhận di chúc. Trong thực tiễn, nhiều văn bản ghi chép chỉ có chữ ký của một người làm chứng hoặc không có chữ ký, điểm chỉ của bất kỳ ai.
Việc thiếu chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng làm cho văn bản ghi nhận di chúc miệng không có giá trị pháp lý dẫn đến di chúc miệng bị tuyên vô hiệu.
g. Không được công chứng hoặc chứng thực trong thời hạn 05 ngày làm việc:
Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Trên thực tế, rất nhiều trường hợp bỏ qua thủ tục này hoặc thực hiện sau thời hạn luật định. Việc không công chứng, chứng thực đúng thời hạn là căn cứ phổ biến để Tòa án tuyên di chúc miệng vô hiệu.
h. Di chúc miệng bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện chung của giao dịch dân sự:
Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Ngoài các vi phạm đặc thù về hình thức và thủ tục, di chúc miệng còn có thể bị tuyên vô hiệu nếu vi phạm các điều kiện chung của giao dịch dân sự, chẳng hạn như: nội dung di chúc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; tài sản để lại không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc; hoặc di chúc được lập nhằm che giấu một giao dịch khác trái pháp luật.
3. Những rủi ro pháp lý thường gặp khi lập di chúc miệng:
Di chúc miệng là hình thức di chúc đặc biệt. Do đó hình thức di chúc này chỉ được pháp luật cho phép áp dụng trong những trường hợp hết sức hạn chế, khi người lập di chúc lâm vào tình trạng nguy kịch, bị cái chết đe dọa và không còn khả năng lập di chúc bằng văn bản. Mặc dù nhằm bảo vệ quyền định đoạt tài sản cuối cùng của cá nhân nhưng trên thực tế, di chúc miệng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro pháp lý, là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tranh chấp thừa kế kéo dài và phức tạp. Các rủi ro này thể hiện rõ ở những khía cạnh sau:
3.1. Rủi ro về số lượng và tư cách pháp lý của người làm chứng:
Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Đồng thời, Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Trên thực tế, tại thời điểm người lập di chúc miệng sắp qua đời, phạm vi người có mặt thường rất hạn chế và chủ yếu là người thân trong gia đình – vốn lại chính là những người có quyền hưởng di sản. Việc người làm chứng không đủ số lượng hoặc không đủ điều kiện hợp lệ là tình trạng khá phổ biến, dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng là di chúc miệng bị coi là không hợp pháp và không làm phát sinh hiệu lực.
3.2. Không thực hiện đúng trình tự ghi chép, ký xác nhận và công chứng, chứng thực trong thời hạn:
Pháp luật quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục nhằm hạn chế tối đa nguy cơ làm giả hoặc xuyên tạc nội dung di chúc miệng. Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại đầy đủ nội dung di chúc, cùng ký tên hoặc điểm chỉ; đồng thời, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập di chúc miệng, văn bản ghi nhận này phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Tuy nhiên trong thực tế, rất nhiều trường hợp di chúc miệng chỉ được truyền miệng, không được lập thành văn bản hoặc có lập văn bản nhưng không tiến hành công chứng, chứng thực đúng thời hạn. Chỉ cần vi phạm một trong các bước nêu trên, di chúc miệng sẽ không được pháp luật công nhận dù nội dung di chúc có thể phản ánh đúng ý chí của người để lại di sản.
3.3. Khó khăn trong việc chứng minh ý chí đích thực của người để lại di sản:
Bản chất của di chúc miệng là không tồn tại dưới dạng văn bản do chính người lập di chúc ký tên hoặc điểm chỉ. Khi không có tài liệu, bản ghi âm, ghi hình hay chứng cứ khách quan khác, toàn bộ nội dung di chúc phụ thuộc gần như hoàn toàn vào lời khai của người làm chứng.
Trong bối cảnh tranh chấp thừa kế, các bên thường không thống nhất về nội dung di chúc, nghi ngờ tính trung thực hoặc khách quan của người làm chứng; thậm chí cho rằng di chúc đã bị thêm bớt, bóp méo so với ý chí ban đầu của người lập di chúc. Việc chứng minh ý chí thực sự của người để lại di sản trong trường hợp này là vô cùng khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, phát sinh chi phí tố tụng và làm gia tăng mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên trong gia đình.
3.4. Rủi ro bị Tòa án tuyên vô hiệu toàn bộ di chúc:
Di chúc miệng là hình thức di chúc đặc biệt được pháp luật thừa nhận với phạm vi rất hạn chế và chịu sự kiểm soát chặt chẽ về chủ thể lập di chúc, hoàn cảnh lập di chúc, điều kiện người làm chứng, hình thức thể hiện cũng như trình tự, thủ tục xác lập. Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế, Tòa án thường xem xét di chúc miệng với mức độ thận trọng cao hơn so với di chúc bằng văn bản.
Trên thực tế, chỉ cần một trong các điều kiện luật định không được bảo đảm (như người lập di chúc không thực sự trong tình trạng tính mạng bị cái chết đe dọa; không đủ số lượng hoặc tư cách hợp lệ của người làm chứng; không ghi chép kịp thời nội dung di chúc; không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng; hoặc không được công chứng, chứng thực trong thời hạn 05 ngày làm việc…) thì di chúc miệng đã không đáp ứng điều kiện có hiệu lực theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Hệ quả pháp lý của việc di chúc miệng bị tuyên vô hiệu là toàn bộ nội dung định đoạt tài sản của người đã khuất không được pháp luật công nhận. Di sản thừa kế sẽ được giải quyết theo chế định thừa kế theo pháp luật, căn cứ vào hàng thừa kế, điều kiện và tỷ lệ hưởng di sản theo quy định hiện hành. Điều này dẫn đến việc ý chí định đoạt tài sản cuối cùng của người để lại di sản không được thực hiện, thậm chí hoàn toàn bị phủ nhận.
Không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người được chỉ định hưởng di sản theo di chúc miệng, việc di chúc bị tuyên vô hiệu còn là nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp phức tạp kéo dài giữa các đồng thừa kế, gây tốn kém thời gian, chi phí tố tụng và làm gia tăng mâu thuẫn trong quan hệ gia đình. Trên thực tế, nhiều vụ việc cho thấy chính việc lựa chọn hình thức di chúc miệng đã trở thành nguồn gốc của tranh chấp thay vì là công cụ bảo đảm ý chí cuối cùng của người để lại di sản.
3.5. Hệ quả pháp lý và xã hội phát sinh từ tranh chấp di chúc miệng:
Việc di chúc miệng không được công nhận hoặc bị tranh chấp không chỉ gây thiệt hại về mặt quyền lợi kinh tế của người thừa kế mà còn để lại nhiều hệ quả tiêu cực khác, như: làm rạn nứt quan hệ gia đình, phát sinh khiếu kiện kéo dài, ảnh hưởng đến trật tự xã hội và gây áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong nhiều trường hợp, những mâu thuẫn này không thể hàn gắn và để lại hậu quả lâu dài cho các thế hệ sau.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


