Ủy quyền cho người khác lập di chúc giúp có được không? Bố mẹ muốn ủy quyền cho con đi lập di chúc thay tại văn phòng công chứng có được không? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp thắc mắc cho bạn và cung cấp các quy định pháp luật về việc lập di chúc một cách hợp pháp.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Bố mẹ có được ủy quyền cho con lập di chúc thay không?
Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, có thể hiểu ủy quyền là việc một cá nhân hoặc pháp nhân trên cơ sở thỏa thuận cho phép một cá nhân hoặc pháp nhân khác nhân danh mình thực hiện một hoặc nhiều giao dịch dân sự nhất định. Việc ủy quyền này được thực hiện trong phạm vi, nội dung và thời hạn do các bên thống nhất; qua đó người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự theo đúng thỏa thuận đã giao kết.
Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Và Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người lập di chúc như sau:
- Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật Dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Ngoài ra, Điều 639 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở như sau:
- Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc;
- Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 636 của Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy: Cha mẹ KHÔNG thể ủy quyền cho con lập di chúc thay.
2. Vì sao pháp luật không cho phép ủy quyền lập di chúc?
Pháp luật không cho phép ủy quyền lập di chúc bởi di chúc là giao dịch dân sự mang tính nhân thân đặc biệt gắn liền trực tiếp với ý chí, nhận thức và sự tự nguyện của chính người để lại di sản. Đây là ý chí cuối cùng của một cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết nên không thể chuyển giao cho người khác thực hiện thay (kể cả con ruột).
- Thứ nhất, di chúc phải do chính người lập di chúc tự mình thể hiện ý chí. Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Ý chí này phải được bộc lộ trực tiếp, rõ ràng, tự nguyện và không bị chi phối bởi bất kỳ chủ thể nào khác. Nếu cho phép ủy quyền, ý chí trong di chúc sẽ không còn là ý chí trực tiếp của người để lại di sản và làm mất đi bản chất pháp lý của di chúc.
- Thứ hai, việc ủy quyền tiềm ẩn nguy cơ gian dối, ép buộc hoặc trục lợi. Người được ủy quyền (trong trường hợp này là con) có thể vì lợi ích cá nhân mà ghi nhận nội dung không đúng với mong muốn thực sự của cha mẹ; từ đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế khác. Việc pháp luật cấm ủy quyền lập di chúc chính là cơ chế phòng ngừa tranh chấp thừa kế phát sinh sau này.
- Thứ ba, pháp luật yêu cầu kiểm soát chặt chẽ năng lực hành vi và sự minh mẫn của người lập di chúc. Khi lập di chúc, người để lại di sản phải minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Những yếu tố này chỉ có thể được công chứng viên hoặc người làm chứng kiểm tra, xác nhận trực tiếp đối với chính người lập di chúc, chứ không thể thông qua một người được ủy quyền (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Như vậy: Di chúc là giao dịch dân sự không được phép ủy quyền. Trong mọi trường hợp, cha mẹ phải tự mình lập di chúc. Nếu gặp khó khăn trong việc đi lại, pháp luật đã có giải pháp hợp pháp và an toàn hơn, đó là mời công chứng viên đến tận nhà hoặc bệnh viện để lập di chúc, vừa đúng luật vừa bảo đảm giá trị pháp lý cao nhất cho di chúc.
3. Bố mẹ có được ủy quyền cho con công chứng di chúc thay không?
Điều 58 Luật Công chứng 2024 quy định:
- Người lập di chúc không được ủy quyền cho người khác mà phải tự mình ký hoặc ký và điểm chỉ vào bản di chúc được công chứng. Trường hợp người lập di chúc không ký được và không điểm chỉ được thì việc lập di chúc phải có người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật Công chứng 2024;
- Trường hợp công chứng viên nhận thấy người lập di chúc có dấu hiệu bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì công chứng viên từ chối công chứng di chúc đó;
- Trường hợp tính mạng người lập di chúc bị cái chết đe dọa thì người lập di chúc không phải xuất trình đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật Công chứng 2024 nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.
Bên cạnh đó, Điều 44 Luật Công chứng 2024 quy đinh:
(1) Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
(2) Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp sau đây:
- Lập di chúc tại chỗ ở theo quy định của Bộ luật Dân sự;
- Không thể đi lại được vì lý do sức khỏe; đang điều trị nội trú hoặc bị cách ly theo chỉ định của cơ sở y tế;
- Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
- Có lý do chính đáng khác theo quy định của Chính phủ.
Và Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực như sau:
- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;
- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó;
- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;
- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;
- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó;
- Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
Như vậy: Cha mẹ KHÔNG được ủy quyền cho con hoặc người khác đi công chứng di chúc thay mình bởi việc lập và công chứng di chúc phải do chính người lập di chúc trực tiếp thể hiện ý chí trước Công chứng viên.
Tuy nhiên, trong trường hợp người lập di chúc tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không thể đi lại, có thể yêu cầu công chứng viên đến tận nơi cư trú, bệnh viện hoặc địa điểm phù hợp khác để thực hiện việc công chứng, nhằm bảo đảm quyền lập di chúc và giá trị pháp lý của di chúc theo quy định của pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


