Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, không ít trường hợp di chúc bị không được áp dụng khi phân chia di sản. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến việc này lại không hoàn toàn giống nhau, có thể do di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực. Vậy: Di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực khác nhau như thế nào?
Mục lục bài viết
1. Phân biệt giữa di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực:
Di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực đều là những di chúc đã được lập nhưng không có giá trị sử dụng trong việc phân chia di sản thừa kế. Vậy: Giữa di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực có gì khác biệt? Sau đây, Luật Dương Gia xin đưa ra những tiêu chí phân biệt giữa di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực:
| Tiêu chí | Di chúc vô hiệu | Di chúc không có hiệu lực |
| Khái niệm | Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện nay không quy định cụ thể như thế nào là di chúc vô hiệu. Có thể hiểu, ”di chúc vô hiệu” là văn bản di chúc được lập ra không đáp ứng những điều kiện để di chúc có hiệu lực, di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật về thừa kế. | Cũng như di chúc vô hiệu thì Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành không quy định như thế nào là di chúc không có hiệu lực. Di chúc không có hiệu lực được chia thành 02 trường hợp:
Theo đó, ”di chúc không có hiệu lực” là di chúc hợp pháp nhưng thuộc các trường hợp mà pháp luật về thừa kế quy định dẫn đến việc bản di chúc đó không có hiệu lực thi hành. |
| Xác định trường hợp | Di chúc vô hiệu là di chúc được lập ra nhưng không hợp pháp, không bảo đảm các điều kiện được nêu ra tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, trong các trường hợp sau thì di chúc được xác định là vô hiệu:
| Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì những trường hợp sau được xác định là di chúc không có hiệu lực thi hành:
|
| Hậu quả pháp lý | Di chúc này không làm phát sinh hiệu lực thực hiện của di chúc, di chúc được xem như là vô hiệu kể từ thời điểm lập di chúc. | Di chúc không có hiệu lực vẫn được xác định là di chúc hợp pháp nhưng không có hiệu lực và phát sinh ra những hậu quả pháp lý sau:
|
2. Một số nhầm lẫn liên quan đến di chúc vô hiệu và di chúc không có hiệu lực:
Trong quá trình lập, công bố và thực hiện di chúc, không ít trường hợp các bên liên quan (kể cả người để lại di sản, người thừa kế hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp) có sự nhầm lẫn về giá trị pháp lý của di chúc. Những nhầm lẫn này không chỉ làm phát sinh tranh chấp kéo dài mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế. Cụ thể như sau:
2.1. Nhầm lẫn giữa di chúc vô hiệu và di chúc không hợp pháp:
Một trong những nhầm lẫn phổ biến nhất là đồng nhất khái niệm ”di chúc vô hiệu” với ”di chúc không hợp pháp”. Trên thực tế, di chúc không hợp pháp là nguyên nhân dẫn đến việc di chúc bị tuyên vô hiệu nhưng không phải mọi di chúc có sai sót đều đương nhiên vô hiệu toàn bộ.
Trong nhiều trường hợp, phần di chúc không hợp pháp có thể bị vô hiệu; trong khi các phần còn lại vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định (Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015).
2.2. Nhầm lẫn giữa di chúc không có hiệu lực và di chúc hết hiệu lực:
Không ít người cho rằng di chúc không có hiệu lực đồng nghĩa với việc di chúc ”hết hiệu lực” theo thời gian. Tuy nhiên, pháp luật dân sự không quy định di chúc tự động hết hiệu lực sau một khoảng thời gian nhất định.
Di chúc không có hiệu lực thường xuất phát từ các căn cứ như: người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế; hoặc di chúc bị thay thế bằng một di chúc hợp pháp khác. Việc nhầm lẫn hai khái niệm này có thể dẫn đến cách áp dụng sai trong việc chia di sản, đặc biệt khi tồn tại nhiều bản di chúc khác nhau.
2.3. Nhầm lẫn di chúc được công chứng thì luôn có hiệu lực:
Trong thực tiễn, nhiều người tin rằng chỉ cần di chúc được công chứng hoặc chứng thực thì đương nhiên có giá trị pháp lý tuyệt đối. Trên thực tế, công chứng chỉ là một yếu tố giúp tăng tính an toàn pháp lý cho di chúc mà không phải là căn cứ duy nhất để xác định hiệu lực.
Một di chúc dù được công chứng nhưng nếu người lập di chúc không minh mẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, hoặc nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vẫn có thể bị tuyên vô hiệu. Sự nhầm lẫn này khiến nhiều người chủ quan và không chú trọng đến các điều kiện cốt lõi khác của di chúc.
2.4. Nhầm lẫn về thời điểm xác định hiệu lực của di chúc:
Một sai lầm khác thường gặp là cho rằng di chúc có hiệu lực ngay từ thời điểm lập. Theo quy định pháp luật, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản chết (Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015).
Trước thời điểm này, người lập di chúc hoàn toàn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc (Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015). Việc hiểu sai thời điểm hiệu lực có thể dẫn đến tranh chấp khi các bên cho rằng quyền thừa kế đã được xác lập từ trước khi người lập di chúc qua đời.
3. Lưu ý quan trọng để tránh di chúc bị vô hiệu hoặc không có hiệu lực:
Để di chúc được công nhận và thực sự phát huy giá trị pháp lý khi mở thừa kế, người lập di chúc cần đặc biệt chú trọng đến các điều kiện mà pháp luật quy định. Trên thực tế, rất nhiều di chúc bị vô hiệu hoặc không có hiệu lực không phải do ý chí của người lập di chúc không rõ ràng mà xuất phát từ những sai sót phổ biến trong quá trình lập di chúc.
3.1. Lưu ý về điều kiện chủ thể lập di chúc:
Người lập di chúc phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật tại thời điểm lập di chúc. Đây là điều kiện tiên quyết quyết định giá trị pháp lý của di chúc. Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
Trong thực tiễn, nhiều tranh chấp phát sinh khi di chúc được lập trong giai đoạn người để lại di sản đang điều trị bệnh nặng, tuổi cao, sức khỏe suy giảm. Do đó để hạn chế rủi ro, cần có căn cứ thể hiện rõ tình trạng tinh thần minh mẫn của người lập di chúc; chẳng hạn thông qua việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc có xác nhận của cơ sở y tế trong những trường hợp cần thiết…
3.2. Lưu ý về nội dung di chúc:
Nội dung di chúc phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Việc phân định di sản cần được thể hiện rõ ràng và cụ thể, tránh cách diễn đạt mơ hồ hoặc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Ngoài ra, người lập di chúc cần đặc biệt lưu ý đến quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự như con chưa thành niên, cha mẹ, vợ hoặc chồng không có khả năng lao động (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015). Nếu di chúc không đảm bảo quyền lợi tối thiểu của các chủ thể này, phần di chúc liên quan có thể bị vô hiệu hoặc bị điều chỉnh khi chia thừa kế.
3.3. Lưu ý về hình thức của di chúc:
Hình thức di chúc là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất khiến di chúc bị tuyên vô hiệu. Di chúc phải được lập đúng hình thức mà pháp luật cho phép, bao gồm di chúc bằng văn bản (có hoặc không có người làm chứng) hoặc di chúc miệng trong những trường hợp đặc biệt.
Đối với di chúc bằng văn bản, cần đảm bảo các yêu cầu như: Có ngày, tháng, năm lập di chúc; có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc; nội dung không bị tẩy xóa, sửa chữa trái quy định. Trường hợp có người làm chứng thì người làm chứng phải đủ điều kiện theo luật định. Đối với di chúc miệng, phải tuân thủ nghiêm ngặt về điều kiện lập và thời hạn xác lập lại bằng văn bản nếu không di chúc sẽ không có hiệu lực.
3.4. Lưu ý về di sản và người thừa kế:
Người lập di chúc cần xác định rõ di sản để lại thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình tại thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp di sản không còn hoặc chỉ còn một phần thì di chúc sẽ không có hiệu lực đối với phần di sản không tồn tại.
Bên cạnh đó, cần xem xét tình trạng của người thừa kế theo di chúc. Nếu người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì phần di chúc liên quan sẽ không có hiệu lực, trừ trường hợp có quy định về thừa kế thế vị theo pháp luật (Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015). Việc không dự liệu trước các tình huống này có thể làm cho toàn bộ hoặc một phần di chúc không được áp dụng.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


