Khi lập di chúc, bên cạnh nội dung và hình thức thì người làm chứng là yếu tố nhiều người thường bỏ qua nhưng lại có ý nghĩa quyết định đến giá trị pháp lý của di chúc. Không ít trường hợp di chúc bị tranh chấp hoặc tuyên vô hiệu chỉ vì người làm chứng không đủ điều kiện hoặc số lượng không đúng quy định. Vậy: Lập di chúc cần mấy người làm chứng? Ai được quyền làm chứng khi lập di chúc?
Mục lục bài viết
1. Lập di chúc cần có bao nhiêu người làm chứng?
Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có công chứng;
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đồng thời, khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Như vậy: Khi lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng thì phải có tối thiểu phải có 02 người làm chứng. Quy định này là cần thiết nhằm bảo đảm tính khách quan, trung thực của việc lập di chúc. Số lượng người làm chứng tối thiểu này giúp tăng độ tin cậy trong việc xác nhận ý chí tự nguyện, minh mẫn của người lập di chúc; đồng thời hạn chế nguy cơ gian dối, ép buộc hoặc giả mạo, đặc biệt trong trường hợp phát sinh tranh chấp thừa kế.
2. Ai được quyền làm chứng khi lập di chúc?
Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người làm chứng cho việc lập di chúc. Theo đó, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Theo đó, bất cứ ai cũng có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ 03 đối tượng nêu trên.
Cụ thể, các đối tượng sau đây bị loại trừ khỏi tư cách người làm chứng:
- Thứ nhất, người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là những người có quyền trực tiếp hưởng di sản của người lập di chúc sau khi người này chết. Do có lợi ích vật chất gắn liền với nội dung di chúc, những người này có khả năng tác động, chi phối hoặc gây ảnh hưởng đến ý chí của người lập di chúc trong quá trình xác lập di chúc. Việc cho phép họ làm chứng có thể làm phát sinh nghi ngờ về tính trung thực và khách quan của việc làm chứng; đặc biệt trong trường hợp xảy ra tranh chấp thừa kế. Vì vậy, pháp luật loại trừ người thừa kế khỏi vai trò người làm chứng nhằm bảo đảm di chúc phản ánh đúng ý chí tự nguyện của người để lại di sản.
- Thứ hai, người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc là những người mà quyền lợi hoặc nghĩa vụ của họ phát sinh trực tiếp từ việc thực hiện di chúc; chẳng hạn như người được thanh toán nợ từ di sản, người được giao quản lý tài sản hoặc người có quyền nhận một khoản lợi ích tài sản theo sự sắp đặt trong di chúc… Nhóm đối tượng này tuy không phải là người thừa kế nhưng vẫn có lợi ích kinh tế gắn với di chúc, do đó khó bảo đảm được sự vô tư khách quan khi làm chứng. Việc loại trừ họ khỏi tư cách người làm chứng là cần thiết để tránh việc hợp thức hóa những nội dung di chúc có thể gây bất lợi cho các chủ thể khác.
- Thứ ba, người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Người làm chứng cho việc lập di chúc phải có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi để hiểu được ý nghĩa pháp lý của việc làm chứng cũng như xác nhận chính xác các tình tiết liên quan đến việc lập di chúc. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không đáp ứng được yêu cầu này do hạn chế về mặt tâm lý, nhận thức hoặc năng lực pháp lý. Vì vậy, pháp luật không cho phép các chủ thể này làm chứng nhằm bảo đảm giá trị chứng cứ và hiệu lực pháp lý của di chúc.
3. Lập di chúc có bắt buộc phải có người làm chứng không?
Di chúc là văn bản hoặc lời nói thể hiện ý chí, nguyện vọng của một người trong việc định đoạt tài sản của mình sẽ thuộc quyền sở hữu của ai sau khi qua đời. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành thì di chúc có thể được thể hiện dưới 02 dạng sau: Di chúc miệng và di chúc được lập thành văn bản. Theo đó, vấn đề người làm chứng chỉ được đặt ra đối với di chúc được lập thành văn bản.
Căn cứ theo quy định tại Điều 633 và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc bằng văn bản được chia thành 02 loại cụ thể sau:
a. Di chúc được lập thành văn bản không có người làm chứng theo quy định tại Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Trong trường hợp không có người làm chứng này thì người lập di chúc sẽ phải tự lập và ký vào bản di chúc mình lập.
Trong trường hợp này, việc lập di chúc sẽ phải tuân thủ theo quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nội dung di chúc (thời gian lập di chúc, thông tin của người lập di chúc, thông tin của cá nhân – tổ chức được hưởng di sản thừa kế, di sản thừa kế để lại và nơi có di sản) cũng như các yêu cầu về việc nội dung trong di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu.
Khi lập di chúc định đoạt di sản thừa kế có nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Nếu trong di chúc có sự tẩy xoá, sửa chữa thì người lập di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa đó.
b. Di chúc được lập thành văn bản có người làm chứng theo quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Việc lập di chúc bằng văn bản cần phải có người làm chứng khi người lập di chúc không thể tự mình viết di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy.
Trong trường hợp này, người lập di chúc sẽ phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Sau đó những người làm chứng cho việc lập di chúc trong trường hợp này cũng xác nhận vào di chúc bằng chữ ký, điểm chỉ.
Lưu ý: Để bảo đảm tính pháp lý, tránh xảy ra những tranh chấp của những người có quyền thừa kế theo di chúc thì người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực vào bản di chúc theo quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Như vậy, khi lập di chúc KHÔNG bắt buộc phải có người làm chứng nếu người lập di chúc có thể tự mình viết bản di chúc đó. Nếu người lập di chúc đánh máy di chúc hoặc nhờ người khác soạn thảo giúp mình bản di chúc thì mới bắt buộc phải có người làm chứng theo quy định pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


