Trong tố tụng hình sự, người bị hại là chủ thể trực tiếp chịu thiệt hại do tội phạm gây ra và giữ vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật vụ án. Pháp luật quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người bị hại nhằm bảo đảm họ được bảo vệ, được tham gia tố tụng một cách đầy đủ và công bằng. Dưới đây là quy định cụ thể của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong tố tụng hình sự.
Mục lục bài viết
1. Bị hại trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào?
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thuật ngữ được sử dụng là “Người bị hại” – là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra. Tại thời điểm đó, người bị hại chỉ có thể là thể nhân – tức cá nhân bị xâm hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản. Đối với trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, cha mẹ hoặc người giám hộ của họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách đại diện hợp pháp. Nếu người bị hại đã chết, những người thân thích như cha, mẹ, vợ, chồng, con được xác định là người đại diện hợp pháp và được thực hiện các quyền tố tụng của người bị hại.
Tuy nhiên, đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thuật ngữ “Người bị hại” đã được thay thế bằng khái niệm “Bị hại” với phạm vi mở rộng và đầy đủ hơn. Không chỉ cá nhân mà cả cơ quan và tổ chức cũng có thể là bị hại trong vụ án hình sự nếu bị thiệt hại về tài sản, uy tín hoặc bị đe dọa gây thiệt hại.
Khái niệm này được quy định cụ thể tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.”
Sự thay đổi này thể hiện bước tiến quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, bảo đảm phạm vi bảo vệ rộng hơn, phù hợp với thực tiễn khi nhiều hành vi phạm tội không chỉ xâm hại cá nhân mà còn gây thiệt hại trực tiếp cho cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Đồng thời, bị hại trong vụ án hình sự được xác định dựa trên một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, về chủ thể: Phạm vi bị hại được mở rộng bao gồm cá nhân, pháp nhân và các tổ chức. Điều này phản ánh thực tế nhiều hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho con người mà còn xâm hại trực tiếp đến tài sản, uy tín và hoạt động của cơ quan, tổ chức.
- Thứ hai, về loại thiệt hại: Pháp luật ghi nhận bị hại có thể là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản hoặc uy tín. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải trong mọi trường hợp thiệt hại là điều kiện bắt buộc để xác định bị hại; đối với một số tội phạm chỉ cần có hành vi đe dọa gây thiệt hại cũng đủ để phát sinh tư cách bị hại theo luật.
- Thứ ba, về mối quan hệ nhân quả: Thiệt hại của bị hại phải là kết quả trực tiếp từ hành vi phạm tội, có mối liên hệ rõ ràng giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra. Đây là yếu tố quan trọng để phân biệt bị hại với nguyên đơn dân sự hoặc các đương sự khác trong vụ án hình sự vì chỉ khi thiệt hại là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm thì chủ thể mới được xác định là bị hại.
- Thứ tư, về điều kiện tố tụng: Cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức chỉ được tham gia tố tụng với tư cách bị hại khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận. Việc công nhận này là cần thiết để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bị hại được thực hiện đúng quy định và đúng phạm vi pháp lý.
2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong tố tụng hình sự:
Quyền và nghĩa vụ của bị hại được quy định tại 62 Bộ Luật tố tụng Hình sự 2015 quy định về như sau:
2.1. Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự:
Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền sau đây:
- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của mình;
- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
- Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
- Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
- Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
- Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
- Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên Tòa. Những trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại được quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2021).
2.2. Nghĩa vụ của người bị hại trong tố tụng hình sự:
Bị hại có nghĩa vụ sau đây:
- Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;
- Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Ngoài ra cần lưu ý:
- Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định trên;
- Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định trên.
3. Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là bị hại từ 01/01/2026:
Căn cứ theo Điều 22 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định về từ 01/01/2026, người chưa thành niên là bị hại có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Có người đại diện tham gia tố tụng;
- Được sự hỗ trợ của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học trong trường hợp cần thiết;
- Được thông tin đầy đủ, kịp thời bằng ngôn từ đơn giản, thân thiện, dễ hiểu về những nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án;
- Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong suốt quá trình giải quyết vụ việc, vụ án;
- Được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;
- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024;
- Được sự hỗ trợ của người làm công tác xã hội trong quá trình tố tụng;
- Được bồi thường thiệt hại và hỗ trợ theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 và các luật khác có liên quan;
- Khiếu nại quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;
- Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
Như vậy, người chưa thành niên là bị hại có các quyền và nghĩa vụ nêu trên.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


