Khi bị hại đã chết, các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ không vì thế mà chấm dứt. Pháp luật quy định một chủ thể khác sẽ thay mặt bị hại tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp liên quan đến vụ án. Đó chính là người đại diện hợp pháp của bị hại trong trường hợp bị hại đã qua đời. Dưới đây là quy định của pháp luật về người đại diện hợp pháp trong trường hợp bị hại đã chết.
Mục lục bài viết
1. Người đại diện hợp pháp của bị hại là gì?
Đại diện hợp pháp của người bị hại là cá nhân hoặc tổ chức được pháp luật công nhận để thay mặt người bị hại thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong vụ án hình sự, dân sự hoặc hành chính. Việc đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền hợp pháp tùy thuộc vào từng quan hệ pháp luật cụ thể. Có thể kể đến những quan hệ pháp luật như sau:
(1) Trong vụ án hình sự, đại diện hợp pháp có vai trò đặc biệt quan trọng. Theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền trình bày ý kiến, đưa ra yêu cầu bồi thường, đề nghị giám định, kháng cáo bản án hoặc quyết định của Tòa án và tham gia tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
(2) Trong lĩnh vực dân sự, đại diện hợp pháp có thể là cha, mẹ, người giám hộ hoặc người được ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện;
- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi;
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
(3) Trong các vụ việc liên quan đến đất đai, doanh nghiệp hoặc tranh chấp thương mại, đại diện hợp pháp có thể là người được chỉ định theo điều lệ, quyết định nội bộ hoặc theo quy định pháp luật chuyên ngành.
Như vậy, đại diện hợp pháp đóng vai trò thay mặt người bị hại thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong tố tụng, bảo đảm việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại được thực hiện một cách hiệu quả và đúng quy định pháp luật.
Người đại diện hợp pháp trong trường hợp bị hại đã chết là chủ thể được pháp luật xác định hoặc công nhận để thay mặt người bị hại đã qua đời tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ hành vi phạm tội gây thiệt hại cho bị hại. Việc xác định người đại diện hợp pháp trong trường hợp này dựa trên các nguyên tắc của pháp luật dân sự và tố tụng hình sự.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đã chết được thực hiện toàn bộ quyền của bị hại theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Như vậy, trong trường hợp bị hại đã qua đời, người đại diện hợp pháp chính là người được pháp luật trao thẩm quyền đứng ra thay mặt bị hại để bảo vệ quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
2. Bị hại chết có cần người đại diện hợp pháp không?
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định một hệ thống đầy đủ về chế định đại diện của cá nhân trong tố tụng hình sự. Theo đó, người đại diện của cá nhân có thể tham gia tố tụng với nhiều tư cách khác nhau:
- Người bào chữa cho người bị buộc tội;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Hoặc với tư cách đại diện cho người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật được xác lập trong một số trường hợp cụ thể sau:
Thứ nhất, trường hợp bị can, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân dưới 18 tuổi, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Người đại diện theo pháp luật của họ sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng tương ứng quy định tại các Điều 60, 61, 63, 64 và 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của bị can, bị cáo còn có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo Điều 457 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thứ hai, trường hợp bị hại là cá nhân dưới 18 tuổi; người bị hại đã chết, mất tích; hoặc người bị hại mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự. Khi đó, người đại diện theo pháp luật của bị hại sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo khoản 2 và khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đồng thời, họ còn có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa theo khoản 3 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
Thứ ba, trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc người làm chứng dưới 18 tuổi. Khi thực hiện các hoạt động tố tụng liên quan đến những chủ thể này, cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải bảo đảm có mặt người đại diện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ và bảo đảm tính khách quan, minh bạch của quá trình tố tụng.
Như vậy, bị hại qua đời thì bắt buộc phải có người địa diện hợp pháp để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bị hại theo quy định của pháp luật.
3. Người đại diện hợp pháp có được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Theo đó, những người sau đây là người có thể làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự:
- Luật sư;
- Người đại diện;
- Bào chữa viên nhân dân;
- Trợ giúp viên pháp lý.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, người đại diện hợp pháp của bị hại hoàn toàn có quyền tham gia tố tụng và thực hiện chức năng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại. Việc tham gia này bao gồm quyền trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, đưa ra yêu cầu, tham gia tranh luận tại phiên tòa và thực hiện các quyền tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
4. Trình tự, thủ tục chỉ định đại diện hợp pháp của bị hại:
Việc chỉ định đại diện hợp pháp của người bị hại phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, bảo đảm đúng pháp luật và minh bạch trong tố tụng. Quy trình này thường bao gồm các bước sau:
Bước 1: Xác định tư cách người bị hại và năng lực hành vi dân sự.
Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định chính xác người bị hại theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Là cá nhân hoặc tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra. Đồng thời, phải đánh giá tình trạng năng lực hành vi dân sự của họ để xác định có cần đại diện hay không, bao gồm các trường hợp: Người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người đã chết, người mất tích hoặc pháp nhân… Việc xác định này dựa trên hồ sơ pháp lý như giấy khai sinh, căn cước công dân, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự…
Bước 2: Xác định người đại diện hợp pháp theo quy định pháp luật.
Trên cơ sở tình trạng của người bị hại, cơ quan có thẩm quyền xác định người đại diện hợp pháp theo quy định chuyên ngành:
- Đối với cá nhân: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015, người đại diện hợp pháp có thể là cha, mẹ, người giám hộ hoặc người được ủy quyền hợp pháp;
- Đối với pháp nhân: Người đại diện theo pháp luật là cá nhân được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Điều lệ;
- Đối với người bị hại đã chết: Người thừa kế theo pháp luật (vợ/chồng, cha, mẹ, con…) được ưu tiên xác định là đại diện hợp pháp tham gia tố tụng.
Bước 3: Lập hồ sơ và thông báo việc chỉ định đại diện.
Cơ quan tiến hành tố tụng lập hồ sơ về việc chỉ định đại diện hợp pháp, trong đó bao gồm:
- Biên bản chỉ định hoặc văn bản công nhận người đại diện;
- Tài liệu chứng minh tư cách đại diện: giấy khai sinh, quyết định giám hộ, văn bản ủy quyền, quyết định phân công của tổ chức…;
- Người đại diện hợp pháp phải được thông báo đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng trước khi tham gia vụ án.
Bước 4: Tham gia tố tụng và thực hiện quyền, nghĩa vụ.
Sau khi được công nhận, người đại diện hợp pháp thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị hại, bao gồm:
- Trình bày ý kiến, yêu cầu bồi thường;
- Yêu cầu giám định, định giá tài sản;
- Kháng cáo bản án hoặc quyết định của Tòa án;
- Tham gia tranh luận tại phiên tòa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị hại.
Những quyền này được quy định rõ tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


