Trong nhiều vụ tai nạn giao thông, một trong những thắc mắc phổ biến là liệu người bị hại có bị tạm giữ phương tiện hay không. Đây là vấn đề quan trọng vì việc tạm giữ xe không chỉ ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản mà còn tác động trực tiếp đến hoạt động sinh hoạt, kinh doanh của người liên quan. Hãy cùng làm rõ trong bài viết dưới đây.
Mục lục bài viết
1. Người bị hại trong vụ tai nạn giao thông có bị giữ xe không?
Theo Điều 10 Thông tư 72/2024/TT-BCA có quy định về vấn đề tạm giữ, xử lý phương tiện, đồ vật, tài liệu, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người điều khiển phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ để điều tra, xác minh, giải quyết. Theo đó:
- Việc tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài liệu, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người điều khiển phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các quy định khác có liên quan.
- Đối với trường hợp các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện giao thông đã được tích hợp trong căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia khi tạm giữ giấy tờ, Cảnh sát giao thông thực hiện việc tạm giữ giấy tờ trên môi trường điện tử.
- Trước khi kéo dài thời hạn tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài liệu, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người điều khiển phương tiện, cán bộ được phân công điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường bộ phải báo cáo đề xuất kéo dài thời hạn tạm giữ theo Mẫu số 10/TNĐB ban hành kèm theo Thông tư 72/2024/TT-BCA.
- Việc xử lý phương tiện, đồ vật, tài liệu, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người điều khiển phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các quy định khác có liên quan.
- Sau khi kết thúc khám nghiệm phương tiện giao thông, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi và không vi phạm các quy định khác của pháp luật thì phương tiện giao thông phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện. Nghiêm cấm việc giữ phương tiện giao thông của các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông để làm căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại.
Đối chiếu với quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:
- Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;
- Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Tóm lại, người bị hại trong vụ tai nạn giao thông vẫn CÓ THỂ bị giữ xe khi thuộc một trong những trường hợp nêu trên (khoản 1 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Trong trường hợp xác định người bị hại không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông đó thì phương tiện sẽ KHÔNG bị giữ lại sau khi hoàn tất khám nghiệm (khoản 4 Điều 10 Thông tư 72/2024/TT-BCA).
2. Có được giữ xe trong vụ tai nạn giao thông để làm căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại không?
Khoản 4 Điều 10 Thông tư 72/2024/TT-BCA có quy định: NGHIÊM CẤM việc giữ phương tiện giao thông của các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông để làm căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại.
Quy định này được đặt ra nhằm khắc phục nhiều bất cập lâu nay trong thực tiễn giải quyết tai nạn giao thông. Cụ thể:
a. Tránh tình trạng tạm giữ phương tiện kéo dài, gây thiệt hại cho người dân:
Quy định nghiêm cấm giữ phương tiện giao thông để làm căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tồn tại nhiều năm qua là cơ quan chức năng hoặc các bên liên quan giữ xe quá lâu, không đúng mục đích. Trong thực tế, có những vụ tai nạn mà phương tiện bị giữ hàng tuần, thậm chí hàng tháng chỉ vì chưa thỏa thuận được mức bồi thường. Việc giữ xe kéo dài khiến người dân mất phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại, lao động, kinh doanh; đồng thời phải chịu chi phí bảo quản, lưu giữ. Do đó, quy định này nhằm bảo đảm rằng phương tiện chỉ được giữ khi thực sự cần thiết cho việc điều tra, còn những vấn đề dân sự như bồi thường phải được giải quyết độc lập, tránh gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đời sống của người dân.
b. Bồi thường thiệt hại là quan hệ dân sự, không phải căn cứ để Cơ quan nhà nước giữ phương tiện:
Bồi thường thiệt hại phát sinh từ tai nạn giao thông là một quan hệ dân sự giữa các chủ thể liên quan, không phải là căn cứ pháp lý để cơ quan công an được quyền tạm giữ phương tiện. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật Tố tụng hình sự, việc tạm giữ phương tiện chỉ được thực hiện khi có mục đích phục vụ điều tra, xử lý vi phạm hoặc phòng ngừa hành vi tiếp diễn. Vì vậy, nếu phương tiện không còn cần thiết cho hoạt động tố tụng, việc giữ lại để chờ các bên thỏa thuận mức bồi thường là trái pháp luật và vượt quá phạm vi thẩm quyền của lực lượng chức năng. Quy định cấm giữ phương tiện trong trường hợp này nhằm bảo đảm việc xử lý bồi thường được thực hiện đúng tính chất dân sự của nó, tách bạch với hoạt động quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông.
c. Bảo đảm quyền sở hữu tài sản và quyền tự do đi lại của công dân:
Quyền sở hữu tài sản và quyền tự do đi lại là những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo vệ. Việc giữ phương tiện trái quy định hoặc giữ quá lâu chỉ vì chờ giải quyết bồi thường có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động kinh tế của người liên quan, đặc biệt khi phương tiện là công cụ lao động hoặc phương tiện sinh kế. Nhiều trường hợp người dân bị thiệt hại nặng nề khi không thể sử dụng phương tiện trong thời gian dài, làm gián đoạn công việc và gây tổn thất không đáng có. Vì vậy, quy định của Thông tư 72/2024/TT-BCA nhằm khẳng định rằng quyền sở hữu tài sản chỉ có thể bị hạn chế trong những trường hợp thực sự cần thiết và có căn cứ pháp luật rõ ràng, không thể bị xâm phạm bởi các lý do dân sự như việc thỏa thuận bồi thường.
d. Ngăn chặn việc lợi dụng giữ phương tiện để gây sức ép trong đàm phán bồi thường:
Một trong những lý do quan trọng của quy định này là ngăn chặn tình trạng lợi dụng việc giữ phương tiện để gây sức ép trong quá trình thương lượng bồi thường giữa các bên liên quan. Việc giữ xe như một hình thức “trói buộc” đã khiến nhiều trường hợp đàm phán trở nên phức tạp, kéo dài và thiếu minh bạch. Khi pháp luật cấm tuyệt đối việc giữ phương tiện cho mục đích bồi thường, các bên sẽ phải giải quyết trách nhiệm dân sự trên cơ sở thiện chí, chứng cứ và quy định pháp luật; thay vì dựa vào sức ép gây ra bởi việc giữ phương tiện của bên còn lại.
3. Được phép tạm giữ xe gây tai nạn giao thông trong bao lâu?
Căn cứ khoản 8 Điều 125 Luật Xử phạt vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi bởi khoản 64 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020) quy định về thời hạn tạm giữ xe gây tai nạn giao thông. Theo đó:
- Thời hạn tạm giữ xe gây tai nạn giao thông là không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ;
- Trường hợp vụ việc phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.
- Thời hạn tạm giữ xe gây tai nạn giao thông có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp và cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ phương tiện.
- Đối với vụ việc thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền có thể ra quyết định kéo dài thời hạn tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính.
Như vậy: Theo quy định, thời hạn tạm giữ phương tiện trong vụ tai nạn giao thông thông thường không quá 07 ngày làm việc, và không quá 10 ngày làm việc nếu phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh, thời hạn tạm giữ được kéo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày. Riêng những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất phức tạp cao, người có thẩm quyền có thể quyết định kéo dài thêm thời hạn tạm giữ để phục vụ công tác điều tra và xác minh theo đúng quy định pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


