Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Và lời khai của người bị hại được quy định là nguồn chứng cứ độc lập bởi lẽ nó có đặc điểm riêng, khác với các nguồn chứng cứ khác. Vậy: Người bị hại khai báo gian dối, không đúng thì bị xử lý thế nào?
Mục lục bài viết
1. Bị hại có phải là người tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự không?
Theo điểm c khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khái niệm “người tham gia tố tụng” được hiểu là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức có sự tham gia vào quá trình tố tụng hình sự theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật này quy định. Nói cách khác, đây là những chủ thể được pháp luật xác định có quyền, nghĩa vụ tố tụng và tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động tố tụng nhằm phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự.
Đối chiếu với Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về người tham gia tố tụng hình sự gồm những chủ thể sau:
- Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
- Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
- Người bị bắt;
- Người bị tạm giữ;
- Bị can;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Nguyên đơn dân sự;
- Bị đơn dân sự;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Người làm chứng;
- Người chứng kiến;
- Người giám định;
- Người định giá tài sản;
- Người phiên dịch, người dịch thuật;
- Người bào chữa;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố;
- Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác.
Theo đó, bị hại cũng được xác định là người tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bị hại giữ vị trí pháp lý độc lập, có quyền và nghĩa vụ tố tụng riêng, được tham gia vào các giai đoạn tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Người bị hại khai báo gian dối, không đúng bị xử lý thế nào?
Điều 13 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 quy định về hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ. Cụ thể như sau:
(1) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Người tham gia tố tụng khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật, trừ người bị buộc tội;
- Người tham gia tố tụng từ chối khai báo hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, đồ vật, trừ người bị buộc tội.
(2) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người tham gia tố tụng làm giả hoặc hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, vụ việc.
(3) Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;
- Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;
- Người giám định, người định giá tài sản từ chối kết luận giám định, định giá tài săn mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở lại khách quan.
(4) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối;
- Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nham ngăn cản người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan;
- Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối.
(5) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với Luật sư lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực buộc người bị hại khai báo gian dối hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối.
Như vậy, đối với người tham gia tố tụng hình sự (trong đó có bị hại) mà có hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu không đúng sự thật, trừ trường hợp là người bị buộc tội thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.
3. Bị hại khai báo gian dối, không đúng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo đó, người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ mức độ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
- Làm giả, hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ án;
- Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật;
- Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
- Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;
- Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối;
- Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan;
- Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối;
- Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng;
- Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo đó, người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ mức độ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối chiếu theo Bộ luật Hình sự 2015, đối với hành vi khai báo gian dối, Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối. Theo đó, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, người bào chữa nào mà kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật thì phải đối diện với những khung hình phạt như sau:
- Khung 1: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
- Khung 2: Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
- Khung 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy: Pháp luật hình sự chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi khai báo gian dối/cung cấp tài liệu sai sự thật đối với những chủ thể: Người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, người bào chữa mà không liệt kê chủ thể là bị hại. Vì vậy, bị hại có hành vi khai báo gian dối sẽ bị xử phạt hành chính theo phân tích nêu trên.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


