Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể giảm đi, là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Tình tiết giảm nhẹ tại từng vụ án rất đa dạng. Vậy: Bị hại có được xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hay không?
Mục lục bài viết
1. Người bị hại có được xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo không?
Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”. So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung tình tiết đầu thú được coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt nhưng hiểu về “tình tiết khác” lại chưa thống nhất. Hiện nay cũng chưa có vản bản hướng dẫn cụ thể.
Tham khảo theo hướng dẫn cụ thể tại Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự 1999 thì “ tình tiết khác” được hiểu như sau:
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang, Mẹ Việt Nam anh hùng, Nghệ sỹ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước;
- Bị cáo là Thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là Liệt sỹ;
- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;
- Người bị hại cũng có lỗi;
- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;
- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;
- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;
- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được luật định, khi xét xử Tòa án có thể xem xét những tình tiết khác xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của vụ án và nhân thân người phạm tội để coi đó là tình tiết giảm nhẹ. Những tình tiết này phải được nêu rõ và lý giải đầy đủ trong bản án.
Bên cạnh đó, mặc dù Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TANDTC đã liệt kê một số trường hợp cụ thể có thể vận dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng đến nay khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 vẫn chưa được Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành văn bản hướng dẫn chính thức. Do vậy, trong thực tiễn xét xử, Tòa án có thể tham khảo quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để xem xét, xác định “tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo đảm phù hợp với bản chất vụ án và nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự.
Do đó, pháp luật không cấm người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Có nhiều trường hợp bị cáo đã bồi thường thỏa đáng cho gia đình bị hại, bị hại có cnhu cầu được xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Khi đó, bị hại hoàn toàn CÓ THỂ xin giảm nhẹ tội cho bị cáo và có thể được Tòa án xem xét công nhận là một trong những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
2. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có được xem là tình tiết giảm nhẹ không?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo đó, các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
- Phạm tội do lạc hậu;
- Người phạm tội là phụ nữ có thai;
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người phạm tội tự thú;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định: Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
Đồng thời theo hướng dẫn tại điểm 5, Mục I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao quy định những trường hợp cụ thể được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như sau:
Hiện nay, quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tham khảo quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xác định tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: … Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản.
Gần đây nhất, theo Thông báo số 201/TB-VKSTC ngày 07/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc rút kinh nghiệm vụ án hình sự, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại. Tại điểm 3 mục II của Thông báo có nhấn mạnh nội dung rút kinh nghiệm về việc xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
Theo hướng dẫn tại mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản thì được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Như vậy:
- Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;
- Còn trong vụ án hình sự bị cáo phạm những tội danh dâm phạm đến tính mạng của bị hại, sức khỏe của người khác… như Tội giết người khiếu người bị hại đã chết; thì đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cũng không được xem xét, không được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
3. Bị hại có quyền kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hay không?
Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại được hiểu là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra. Theo khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của mình;
- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
- Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
- Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
- Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
- Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
- Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định;
- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
Trong phạm vi quyền tố tụng được pháp luật ghi nhận, bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có nhiều quyền quan trọng, trong đó bao gồm quyền kháng cáo đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Có thể khẳng định rằng bị hại hoàn toàn CÓ quyền kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Khi nhận được kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung yêu cầu này; việc có chấp nhận hay không phụ thuộc vào đánh giá toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án và quan điểm của Hội đồng xét xử.
Lưu ý rằng, chỉ những chủ thể được pháp luật quy định cụ thể mới có quyền kháng cáo về phần hình phạt như bị cáo, bị hại… Các chủ thể khác trong vụ án hình sự (như nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…) không có quyền kháng cáo yêu cầu tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo bởi quyền kháng cáo của họ chỉ giới hạn trong phạm vi quyền và nghĩa vụ liên quan đến phần dân sự của vụ án.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


