Việc luật sư có được bào chữa cho người thân hay không là vấn đề thường gặp trong thực tiễn tố tụng hình sự, đặc biệt khi gia đình mong muốn người thân được hỗ trợ pháp lý tốt nhất. Pháp luật hiện hành quy định khá cụ thể về các trường hợp được và không được phép tham gia bào chữa nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch và đúng chuẩn mực nghề Luật sư. Vậy: Luật sư có được phép bào chữa cho người thân không?
Mục lục bài viết
- 1 1. Luật sư có được phép bào chữa cho người thân không?
- 2 2. Trường hợp nào luật sư không được tham gia bào chữa cho người thân?
- 3 3. Luật sư bào chữa cho người thân được tham gia tố tụng thời thời gian nào?
- 4 4. Khi bào chữa cho người thân, Luật sư của có được tiết lộ thông tin của người được bào chữa không?
- 5 5. Trường hợp nào Luật sư có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án?
1. Luật sư có được phép bào chữa cho người thân không?
Theo Điều 2 Luật Luật sư 2006: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).
Khoản 1 và khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:
(1) Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
(2) Người bào chữa có thể là:
- Luật sư;
- Người đại diện của người bị buộc tội;
- Bào chữa viên nhân dân;
- Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có bất kỳ điều khoản nào hạn chế quyền của Luật sư trong việc bào chữa cho người thân thích. Vì vậy, Luật sư hoàn toàn CÓ THỂ tham gia bào chữa cho người thân của mình, miễn là không thuộc một trong các trường hợp bị cấm bào chữa được quy định tại khoản 4 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2. Trường hợp nào luật sư không được tham gia bào chữa cho người thân?
Pháp luật quy định những trường hợp cấm Luật sư không được bào chữa cho người nhà/người thân.
Các trường hợp này được quy định tại Khoản 4 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 bao gồm:
- Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó;
- Người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
- Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hiểu một cách đơn giản, Luật sư sẽ không được quyền tham gia bào chữa nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
- Luật sư đã từng hoặc đang là người tiến hành tố tụng trong chính vụ án đó hoặc là người thân thích của người tiến hành tố tụng (ví dụ như Luật sư từng là thẩm phán xét xử sơ thẩm vụ án);
- Luật sư đồng thời là người tham gia tố tụng với tư cách khác như: Người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch hoặc người dịch thuật của vụ án;
- Luật sư đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích hoặc đang trong tình trạng nghiện ma túy và bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Như vậy, khi thuộc bất kỳ trường hợp bị cấm nào nêu trên thì Luật sư không được phép nhận bào chữa cho người thân của mình.
3. Luật sư bào chữa cho người thân được tham gia tố tụng thời thời gian nào?
Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:
- Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can;
- Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ;
- Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
Theo các quy định pháp luật hiện hành, Luật sư bào chữa cho người thân thích được quyền tham gia tố tụng kể từ thời điểm khởi tố bị can.
Đối với trường hợp có việc bắt người hoặc tạm giữ người, Luật sư được tham gia tố tụng ngay từ khi người bị bắt được dẫn giải đến trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, hoặc kể từ thời điểm có quyết định tạm giữ.
Tuy nhiên đối với các vụ án về tội xâm phạm an ninh quốc gia, khi cần thiết phải giữ bí mật điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể quyết định việc luật sư chỉ được tham gia tố tụng từ thời điểm kết thúc điều tra.
4. Khi bào chữa cho người thân, Luật sư của có được tiết lộ thông tin của người được bào chữa không?
Theo khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về nghĩa vụ của người bào chữa như sau:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;
- Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
- Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;
- Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Như vậy: Luật sư chỉ được phép tiết lộ thông tin liên quan đến người mà mình bào chữa khi có sự đồng ý bằng văn bản của họ. Đồng thời, Luật sư tuyệt đối không được sử dụng các thông tin này để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
5. Trường hợp nào Luật sư có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án?
Theo khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người bào chữa có những quyền sau:
- Gặp, hỏi người bị buộc tội;
- Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;
- Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
- Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
- Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
- Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;
- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Như vậy: Luật sư chỉ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án trong trường hợp bị cáo dưới 18 tuổi hoặc có nhược điểm về tâm thần/thể chất.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


