Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là một cơ chế đặc thù được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của người bị hại trong một số loại tội phạm ít nghiêm trọng. Cơ chế này thể hiện sự cân bằng giữa quyền trừng phạt của Nhà nước và quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, lợi ích cá nhân của người bị hại; đồng thời tránh việc can thiệp hình sự không cần thiết trong những trường hợp mà chính người bị hại không mong muốn bị xử lý hình sự. Dưới đây là quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
Mục lục bài viết
1. Quy định về các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại:
Khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là trường hợp đặc biệt mà do tính chất của vụ án và vì lợi ích của người bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự ý quyết định việc khởi tố mà việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo yêu cầu của người bị hại.
Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại chỉ áp dụng đối với một số trường hợp phạm tội cụ thể thuộc các tội phạm nhất định quy định tại các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự 2015.
Đồng thời, không phải trong mọi trường hợp phạm vào những tội nêu ở các Điều luật trên của Bộ luật hình sự đều khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Điều luật quy định chỉ được áp dụng việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại trong trường hợp hành vi phạm tội được mô tả ở khoản 1 (khoản có cấu thành cơ bản) của các Điều luật hình sự nói trên. Điều đó có nghĩa là, việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội xảy ra gây nguy hiểm xã hội ở các mức nhẹ không làm hại cho xã hội. Đó là các trường hợp phạm vào loại tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng không có tính tiết định khung tăng nặng.
Việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau (khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015):
- Khoản 1 Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Khoản 1 Điều 135: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;
- Khoản 1 Điều 136: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
- Khoản 1 Điều 138: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Khoản 1 Điều 139: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;
- Khoản 1 Điều 141: Tội hiếp dâm;
- Khoản 1 Điều 143: Tội cưỡng dâm;
- Khoản 1 Điều 155: Tội làm nhục người khác;
- Khoản 1 Điều 156: Tội vu khống.
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng có những quy định liên quan đến khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại đó là: Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Khoản 3 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiếp tục quy định: Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bỏ 01 trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại, đó là “Tội xâm phạm quyền tác giả”. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bỏ trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại đối với tội này đã thể hiện sự tiến bộ trong công tác lập pháp, phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì thực tế hiện nay, quyền tác giả đã và đang bị xâm phạm ngày càng nhiều và nghiêm trọng hơn, bằng nhiều hành vi ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Thậm chí, việc xâm phạm diễn ra nhưng chính tác giả vẫn không hay biết. Chính vì thế, hành vi xâm phạm này cần được bảo vệ mà không cần phải có yêu cầu của bị hại nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tác giả, quyền liên quan là phù hợp với tình hình của đất nước hiện nay.
2. Quy định về chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự:
Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, quy định: Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
Như vậy, chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện nay bao gồm:
- Cá nhân (trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần và tài sản);
- Cơ quan, tổ chức (bị thiệt hại về tài sản và uy tín);
- Đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
3. Quy định về nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại:
3.1. Về nội dung yêu cầu khởi tố của bị hại:
Trong lịch sử phát triển pháp luật về tố tụng hình sự đều không có quy định cụ thể về nội dung yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, vì vậy bị hại – người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thường không thể hiện được chính xác ý chí của mình trong đơn yêu cầu, dẫn đến nhiều trường hợp không được giải quyết thỏa đáng, kịp thời.
Ví dụ: Trường hợp người yêu cầu bị hại về tội làm nhục người khác nhưng do không có hiểu biết đầy đủ, chính xác quy định của pháp luật nên trong nội dung khi gửi đơn yêu cầu cho Cơ quan điều tra lại giải quyết việc bị người khác hành hung. Tòa án đã không chấp nhận đơn yêu cầu và trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tuy nhiên sau đó người bị hại đã bỏ đi khỏi địa phương nên không thể xác định lại yêu cầu chính xác của bị hại.
Trên thực tế, người dân đa số là người thiếu hiểu biết pháp luật và cơ hội được tiếp cận dịch vụ pháp lý không cao. Do đó, để tránh bỏ sót các hành vi phạm tội và nhằm bảo đảm tối đa quyền và lợi ích của bị hại, pháp luật về tố tụng hình sự không nên đòi hỏi người yêu cầu phải xác định chính xác nội dung về tội danh mà họ yêu cầu mà chỉ cần xem xét nội dung họ yêu cầu có dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự hay không bởi việc định tội danh là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, không phải là nghĩa vụ của người yêu cầu khởi tố. Mặc dù, Bộ luật Tố tụng hình sự chưa quy định cụ thể nhưng yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại phải đảm bảo các nội dung sau:
- Phải có các thông tin sau: ngày tháng làm đơn; họ tên, nơi cư trú của bị hại, ngày, tháng, năm sinh, trình bày tóm tắt nội dung vụ án yêu cầu khởi tố;
- Bị hại phải điểm chỉ hoặc ký xác nhận cho yêu cầu của mình để thể hiện sự tự nguyện.
3.2. Về hình thức thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại:
Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự có thể được thực hiện bằng các hình thức khác nhau để sao cho quyền này được thực hiện một cách thuận lợi nhất. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoàn toàn không đề cập đến hình thức thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Thông tư Liên tịch số 04/2018/TTLT-VKS-TCQ-BCA-BQP ngày 07/9/2018 có quy định về vấn đề này tại khoản 5 Điều 2: “Trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, thì yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của bị hại phải bằng văn bản, nếu yêu cầu bằng lời nói thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố để họ ký hoặc điểm chỉ vào biên bản. Biên bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay cho Cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án”.
Hiện có nhiều quan điểm cho rằng:
- Đơn tố cáo hoặc đơn tố giác tội phạm, đơn đề nghị xử lý theo pháp luật được xem là Đơn yêu cầu khởi tố, vì tuy tiêu đề là Đơn tố cáo/tố giác tội phạm nhưng trong nội dung đơn cũng đề nghị yêu cầu xử lý người phạm tội;
- Quan điểm khác lại cho rằng: Đơn tố cáo, tố giác tội phạm là cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý nên tiến hành xác minh nguồn tin về tội phạm thì bị hại phải làm tiếp Đơn yêu cầu khởi tố vụ án.
- Sự việc sẽ phức tạp hơn khi trên thực tế có sự bất đồng quan điểm giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án); chẳng hạn Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cho rằng Đơn tố cáo hoặc Đơn tố giác tội phạm được xem là Đơn yêu cầu khởi tố nhưng Tòa án lại không đồng tình với quan điểm đó, dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình án.
Trong trường hợp này, thủ tục khởi tố vụ án hình sự cần yêu cầu bị hại /đại diện của bị hại có Đơn yêu cầu bằng văn bản, trong đó có ghi rõ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hay không yêu cầu khởi tố.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


