Trong nhiều vụ tai nạn giao thông, sau khi hai bên đã thương lượng và bồi thường xong, người bị hại hoặc gia đình họ thường rút đơn yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ việc rút đơn này có đủ để người gây tai nạn tránh bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Vậy: Bị hại rút đơn thì người gây tai nạn có phải đi tù nữa hay không?
Mục lục bài viết
1. Bị hại rút đơn, người gây tai nạn có phải đi tù nữa không?
Theo đó, tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141,143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự, khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết; Nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án; Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Có thể nói, bị hại rút đơn (hay còn được gọi là Đơn bãi nại) chỉ có giá trị đình chỉ đối với những vụ án thuộc nhóm tội danh được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (được liệt kê tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Chỉ trong những trường hợp này, khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố một cách tự nguyện, không bị ép buộc hay cưỡng bức, vụ án sẽ được đình chỉ ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào. Khi đó, người gây thiệt hại (dù đang là người bị tạm giữ, tạm giam, bị can hay bị cáo) đều không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh đó.
Riêng đối với Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (Tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng) không thuộc nhóm tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại, vì vậy dù gia đình bị hại có làm đơn bãi nại hay bị hại rút đơn thì vụ án vẫn phải khởi tố và xử lý theo thủ tục chung nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trong trường hợp này, đơn bãi nại chỉ có ý nghĩa là tình tiết giảm nhẹ chứ KHÔNG làm chấm dứt trách nhiệm hình sự của tài xế (người gây ra tai nạn).
2. Bị hại rút đơn, người gây tai nạn có được xem xét giảm nhẹ hình phạt không?
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” là một trong những tình tiết quan trọng được xem xét để giảm nhẹ mức hình phạt.
Quy định này thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự, ghi nhận sự thiện chí và nỗ lực khắc phục hậu quả của người phạm tội như một yếu tố làm giảm nhẹ trách nhiệm.
Trong một vụ án tai nạn giao thông, người gây ra tai nạn đã chủ động bồi thường thiệt hại, hỗ trợ chi phí và khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân. Hành vi bồi thường này thể hiện thái độ hợp tác, thiện chí và sự ăn năn hối lỗi của người gây tai nạn.
Vì vậy, theo đúng quy định pháp luật, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giúp người gây ra tai nạn có cơ hội được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn, thậm chí có thể được xem xét hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt nếu kết hợp với các tình tiết giảm nhẹ khác (Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015).
3. Gây tai nạn giao thông phải đi tù bao nhiêu lâu?
Căn cứ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:
- Khung 1: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
- Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
- Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Như vậy, người gây tai nạn giao thông ngoài việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì còn có thể chịu hình phạt tù nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây tai nạn giao thông:
4.1. Bồi thường do sức khỏe, tinh thần bị xâm phạm:
Căn cứ theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.
Đặc biệt, về mức bồi thường được tính như sau:
- Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định;
- Trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại;
- Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút.
Như vậy, người bị thiệt hại về sức khỏe hoặc tinh thần do tai nạn giao thông cần thu thập và cung cấp đầy đủ các hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc điều trị, chi phí phục hồi sức khỏe cũng như chứng minh phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút của người trực tiếp chăm sóc. Đây là những căn cứ quan trọng để yêu cầu người gây tai nạn phải bồi thường đầy đủ theo quy định của pháp luật.
4.2. Bồi thường do tài sản bị xâm phạm:
Căn cứ theo quy định tại Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015 về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, như sau:
- Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút;
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Đặc biệt, về mức bồi thường được tính như sau:
Đối với tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí để sửa chữa, khôi phục lại tình trạng tài sản trước khi bị hư hỏng theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để xác định thiệt hại; Nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được thì xác định thiệt hại đối với tài sản bị hủy hoại, hư hỏng căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản bị mất, bị hủy hoại tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Như vậy, ngoài việc phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần cho người bị tai nạn, người gây ra tai nạn giao thông còn có nghĩa vụ bồi thường và khắc phục toàn bộ thiệt hại về tài sản. Các thiệt hại này có thể bao gồm phương tiện bị hư hỏng như xe máy, ô tô, cũng như các tài sản khác bị ảnh hưởng trong vụ tai nạn như hàng hóa, quầy hàng, biển hiệu… hoặc công trình bên đường. Đây đều là những khoản bồi thường bắt buộc theo quy định của pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


