Trong thực tế đời sống, nhiều cặp vợ chồng mong muốn cùng nhau định đoạt tài sản chung thông qua một văn bản duy nhất nhằm thể hiện ý chí thống nhất về việc phân chia di sản sau khi qua đời. Vậy, hai vợ chồng có được phép lập di chúc chung không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
- 1 1. Hai vợ chồng có được phép lập di chúc chung hay không?
- 2 2. Cách lập di chúc đúng luật đối với tài sản chung của vợ chồng:
- 2.1 2.1. Xác định rõ tài sản chung và tài sản riêng trước khi lập di chúc:
- 2.2 2.2. Mỗi người lập di chúc riêng, nguyên tắc quan trọng trong pháp luật hiện hành:
- 2.3 2.3. Lựa chọn hình thức di chúc phù hợp để hạn chế tranh chấp:
- 2.4 2.4. Lưu ý quan trọng để bảo đảm hiệu lực pháp lý lâu dài của di chúc:
- 3 3. Di chúc chung của vợ chồng khi nào phát sinh hiệu lực?
1. Hai vợ chồng có được phép lập di chúc chung hay không?
Trước đây, căn cứ theo quy định tại Điều 663 của Bộ luật Dân sự năm 2005 có ghi nhận, vợ chồng có thể lập di chúc chung để tiến hành hoạt động định đoạt tài sản chung theo quy định của pháp luật. Và di chúc chung của vợ chồng sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm người sau cùng qua đời hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết.
Tuy nhiên theo quy định hiện nay, Bộ luật dân sự năm 2015 không có bất cứ điều khoản nào ghi nhận cụ thể về việc lập di chúc chung của vợ chồng.
Điều 29 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng như sau:
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập;
- Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
Căn cứ theo quy định tại Điều 625 của Bộ luật dân sự năm 2015 có ghi nhận, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi cá nhân đó qua đời. Và không có bất kỳ quy định nào nghiêm cấm việc vợ chồng lập di chúc chung. Đồng thời pháp luật cũng có quy định về đối tượng được lập di chúc bao gồm:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật, có tinh thần minh mẫn và sáng suốt trong quá trình lập di chúc, không bị lừa dối hoặc đe dọa bởi bất kỳ chủ đề nào;
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi vẫn có quyền lập di chúc nếu có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp.
Ngoài ra pháp luật còn quy định về một số quyền của người lập di chúc như sau (Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015):
- Có quyền chỉ định người thừa kế theo mong muốn của mình và có quyền truất quyền hưởng di sản thừa kế của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế nhất định;
- Dành một phần trong khối di sản để di tặng hoặc thờ cúng theo nguyện vọng của bản thân;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế và chỉ định người giữ di chúc, chỉ định người quản lý di chúc và người phân chia di sản.
Như vậy: Pháp luật không có quy định nào nghiêm cấm vợ chồng lập di chúc chung. Do đó việc lập di chúc chung hay di chúc riêng của vợ chồng tùy thuộc vào ý chí của mỗi gia đình. Vì vậy nếu có nguyện vọng và nhu cầu thì hai vợ chồng hoàn toàn vẫn có thể ĐƯỢC lập di chúc chung. Hành vi này không bị coi là vi phạm quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, bản di chúc chung này sẽ có giá trị pháp lý nếu thỏa mãn đầy đủ các điều kiện căn cứ theo quy định tại Điều 630 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong trường hợp hai vợ chồng mong muốn được lập di chúc chung thì bản di chúc đó vẫn phải được lập thành hai bản, và mong muốn chia tài sản của hai vợ chồng được thể hiện trong các bản di chúc là đồng nhất với nhau.
2. Cách lập di chúc đúng luật đối với tài sản chung của vợ chồng:
Việc lập di chúc liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề pháp lý tương đối phức tạp, bởi nó không chỉ liên quan đến quyền định đoạt tài sản của từng cá nhân mà còn chịu sự điều chỉnh của chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình. Trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 nhấn mạnh tính cá nhân của di chúc (Điều 624), việc lập di chúc đối với tài sản chung cần được thực hiện đúng nguyên tắc để tránh nguy cơ di chúc bị vô hiệu hoặc phát sinh tranh chấp sau khi mở thừa kế.
2.1. Xác định rõ tài sản chung và tài sản riêng trước khi lập di chúc:
Trước hết, cần xác định chính xác phạm vi tài sản thuộc quyền định đoạt của mỗi người. Trong thực tế, nhiều tranh chấp thừa kế phát sinh không phải do nội dung di chúc mà do xác định sai nguồn gốc tài sản dẫn đến việc một người định đoạt cả phần tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình.
Theo nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gia đình, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thường được xem là tài sản chung (Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014), ngoại trừ trường hợp có căn cứ chứng minh là tài sản riêng như được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc được hình thành từ nguồn tài sản riêng… (Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP). Khi lập di chúc, mỗi người chỉ có quyền định đoạt đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong khối tài sản chung. Có nghĩa nếu tài sản là sở hữu chung hợp nhất thì người lập di chúc chỉ có thể định đoạt phần giá trị tương ứng với quyền sở hữu của mình mà không thể quyết định toàn bộ tài sản.
Việc không phân định rõ tài sản chung và riêng có thể khiến di chúc bị vô hiệu một phần, đặc biệt khi các đồng thừa kế khác chứng minh rằng nội dung di chúc đã vượt quá phạm vi quyền định đoạt hợp pháp của người lập di chúc.
2.2. Mỗi người lập di chúc riêng, nguyên tắc quan trọng trong pháp luật hiện hành:
Một trong những điểm cần lưu ý là pháp luật hiện hành nhấn mạnh di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân, do đó mỗi người vợ hoặc chồng cần lập di chúc riêng cho phần tài sản của mình, kể cả khi hai người có cùng mong muốn về việc phân chia di sản.
Trên thực tế, nhiều cặp vợ chồng muốn lập một văn bản chung để thể hiện ý chí thống nhất, tuy nhiên về bản chất pháp lý việc này vẫn phải được hiểu là 02 di chúc độc lập được thể hiện trong cùng một văn bản mà không phải một “di chúc chung” theo nghĩa pháp lý truyền thống. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền tự do định đoạt tài sản của từng cá nhân, trong đó bao gồm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào trước khi chết mà không phụ thuộc vào ý chí của người còn lại.
Việc lập di chúc riêng còn giúp tránh những tranh chấp phức tạp trong trường hợp một người qua đời trước, bởi khi đó phần di chúc của người còn sống vẫn có thể thay đổi mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần di chúc đã phát sinh.
2.3. Lựa chọn hình thức di chúc phù hợp để hạn chế tranh chấp:
Pháp luật cho phép nhiều hình thức di chúc khác nhau, bao gồm di chúc viết tay, di chúc có người làm chứng, di chúc công chứng hoặc chứng thực (Điều 627 và Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015). Tuy nhiên, đối với tài sản chung của vợ chồng (đặc biệt là bất động sản hoặc tài sản có giá trị lớn) thì việc lập di chúc có công chứng thường được xem là phương án an toàn nhất.
Di chúc được công chứng không chỉ giúp bảo đảm tính hợp pháp về hình thức mà còn hạn chế nguy cơ tranh chấp liên quan đến năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc, tình trạng minh mẫn hoặc các cáo buộc về việc bị ép buộc. Ngoài ra, công chứng viên cũng sẽ hỗ trợ rà soát nội dung định đoạt tài sản để bảo đảm phù hợp với quy định pháp luật, từ đó giảm thiểu khả năng di chúc bị tuyên vô hiệu sau này.
Đối với vợ chồng, việc lập di chúc cùng thời điểm tại Tổ chức hành nghề công chứng cũng giúp thống nhất nội dung định đoạt tài sản nhưng vẫn bảo đảm tính độc lập pháp lý của từng bản di chúc.
2.4. Lưu ý quan trọng để bảo đảm hiệu lực pháp lý lâu dài của di chúc:
Ngoài việc tuân thủ đúng hình thức và phạm vi định đoạt tài sản, vợ chồng khi lập di chúc cần lưu ý một số yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của di chúc trong tương lai. Cụ thể như sau:
- Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn tự nguyện tại thời điểm lập di chúc; bất kỳ dấu hiệu nào về việc bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép đều có thể khiến di chúc bị vô hiệu (Điều 630 và Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015);
- Nội dung di chúc cần rõ ràng, cụ thể và tránh cách diễn đạt chung chung như “chia theo thỏa thuận gia đình” hoặc “chia hợp lý”… do những cụm từ này thường gây khó khăn khi thực hiện trên thực tế. Đối với tài sản chung, nên ghi rõ phần tài sản thuộc quyền định đoạt của từng người để tránh nhầm lẫn khi phân chia;
- Việc rà soát và cập nhật di chúc định kỳ cũng là yếu tố quan trọng do hoàn cảnh gia đình, tài sản hoặc quan hệ nhân thân có thể thay đổi theo thời gian. Một bản di chúc được xây dựng chặt chẽ ngay từ đầu không chỉ bảo đảm ý chí của người lập di chúc được tôn trọng mà còn giúp hạn chế tối đa nguy cơ tranh chấp giữa các đồng thừa kế.
3. Di chúc chung của vợ chồng khi nào phát sinh hiệu lực?
Hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng được xác định dựa trên thời điểm mở thừa kế và nội dung thỏa thuận thể hiện trong di chúc (là thời điểm người có tài sản chết theo Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015). Do đó, đối với di chúc chung của vợ chồng, thời điểm có hiệu lực có thể phát sinh trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, khi một trong hai người vợ hoặc chồng qua đời: Khi một người chết, phần di chúc liên quan đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết sẽ phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế. Các nội dung định đoạt di sản của người này sẽ được xem xét thực hiện theo đúng ý chí đã thể hiện trong di chúc, đồng thời vẫn phải bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người còn sống đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mình.
- Thứ hai, khi cả hai vợ chồng đều qua đời: Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng chết hoặc người còn lại chết sau đó, toàn bộ nội dung di chúc chung sẽ phát sinh hiệu lực đối với phần di sản của cả hai người. Khi đó, việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo các điều khoản mà hai vợ chồng đã thống nhất trong di chúc với mục đích bảo đảm ý chí chung về việc định đoạt tài sản sau khi qua đời.
Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng phụ thuộc vào thời điểm qua đời của từng người lập di chúc. Di chúc có thể phát sinh hiệu lực từng phần khi một người chết hoặc phát sinh hiệu lực toàn bộ khi cả hai vợ chồng đều qua đời nhằm bảo đảm việc thực hiện các quyết định và sự sắp đặt tài sản theo ý chí đã được xác lập trong di chúc.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


