Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, không ít trường hợp phát sinh nghi ngờ về tính xác thực của di chúc hoặc chữ ký của người lập di chúc, đặc biệt khi di chúc được lập dưới hình thức viết tay hoặc không có công chứng, chứng thực. Vậy, giám định di chúc, giám định chữ ký trong di chúc thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Giám định di chúc, giám định chữ ký di chúc trong trường hợp nào?
Giám định di chúc, giám định chữ ký trong di chúc là một thủ tục quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền xác định tính xác thực của chứng cứ, làm rõ chữ ký trong di chúc là thật hay giả; từ đó bảo đảm việc đánh giá chứng cứ được khách quan, chính xác và đúng quy định pháp luật.
Theo Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
- Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự;
- Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định;
- Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết;
- Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó;
- Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.
Điều 26 Luật Giám định tư pháp 2012 quy định về yêu cầu giám định tư pháp trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, vụ án hình sự như sau:
(1) Người yêu cầu giám định phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) và bản sao giấy tờ chứng minh mình là đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định.
(2) Văn bản yêu cầu giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây:
- Tên tổ chức hoặc họ, tên người yêu cầu giám định;
- Nội dung yêu cầu giám định;
- Tên và đặc điểm của đối tượng giám định;
- Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);
- Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định;
- Chữ ký, họ, tên người yêu cầu giám định.
Như vậy, việc giám định chữ ký trong di chúc được thực hiện trong các trường hợp cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, việc giám định chữ ký trong di chúc được tiến hành trên cơ sở yêu cầu của người yêu cầu giám định. Người có quyền yêu cầu giám định phải là đương sự trong vụ án hoặc người tham gia tố tụng có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến nội dung tranh chấp về di chúc;
- Thứ hai, trong trường hợp đương sự đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án không chấp nhận hoặc từ chối việc trưng cầu giám định thì theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đương sự có quyền tự mình yêu cầu tổ chức giám định tiến hành giám định chữ ký, chữ viết hoặc các nội dung liên quan trong di chúc để làm căn cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền yêu cầu giám định chữ ký trong di chúc chỉ được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tức là trước thời điểm Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Hồ sơ yêu cầu giám định di chúc, giám định chữ ký trong di chúc:
Khoản 1 Điều 26 Luật Giám định tư pháp 2012 quy định: Người yêu cầu giám định phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) và bản sao giấy tờ chứng minh mình là đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định.
Như vậy, hồ sơ yêu cầu giám định di chúc, giám định chữ ký trong di chúc bao gồm:
- Văn bản yêu cầu giám định. Văn bản yêu cầu giám định phải thể hiện đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật, bao gồm: Thông tin về người yêu cầu giám định (tên tổ chức hoặc họ tên cá nhân, chữ ký của người yêu cầu); nội dung và phạm vi giám định; thông tin cụ thể về đối tượng giám định (tên gọi, đặc điểm nhận dạng); ngày, tháng, năm yêu cầu giám định; thời hạn đề nghị trả kết luận giám định; danh mục các tài liệu, mẫu so sánh hoặc chứng cứ kèm theo (nếu có). Việc trình bày rõ ràng, đầy đủ các nội dung này giúp cơ quan giám định xác định chính xác yêu cầu chuyên môn và phạm vi thực hiện giám định.
- Đối tượng giám định và các đồ vật, tài liệu liên quan (nếu có). Người yêu cầu cần cung cấp đối tượng giám định, thường là bản gốc di chúc hoặc tài liệu chứa chữ ký, chữ viết cần giám định cùng với các tài liệu, mẫu chữ ký hoặc mẫu chữ viết dùng để so sánh nhằm phục vụ quá trình phân tích, đối chiếu chuyên môn.
- Giấy tờ chứng minh tư cách người yêu cầu giám định. Người yêu cầu phải nộp kèm các tài liệu chứng minh mình là đương sự trong vụ án dân sự như nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc là người đại diện hợp pháp của các chủ thể này. Đây là căn cứ pháp lý để xác định quyền yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật tố tụng.
3. Trình tự, thủ tục giám định di chúc, giám định chữ ký trong di chúc:
Căn cứ các quy định tại Chương V Luật Giám định tư pháp năm 2012, trình tự, thủ tục thực hiện giám định di chúc hoặc giám định chữ ký trong di chúc được thực hiện theo các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Gửi văn bản yêu cầu giám định.
Người yêu cầu giám định (đương sự hoặc người đại diện hợp pháp) có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu giám định đến cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện giám định tư pháp. Hồ sơ gửi kèm bao gồm:
- Đối tượng giám định (thường là bản gốc di chúc hoặc tài liệu chứa chữ ký cần giám định);
- Các tài liệu, đồ vật có liên quan hoặc mẫu chữ ký, chữ viết so sánh (nếu có);
- Bản sao giấy tờ chứng minh tư cách đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính hoặc tư cách tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.
Văn bản yêu cầu giám định phải thể hiện đầy đủ các nội dung chủ yếu sau:
- Tên tổ chức hoặc họ tên người yêu cầu giám định;
- Nội dung và phạm vi yêu cầu giám định;
- Tên gọi và đặc điểm của đối tượng giám định;
- Danh mục tài liệu, mẫu so sánh hoặc chứng cứ kèm theo (nếu có);
- Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn đề nghị trả kết luận giám định;
- Chữ ký và họ tên của người yêu cầu giám định.
Bước 2: Giao nhận hồ sơ và tiến hành giám định.
Việc giao, nhận hồ sơ và đối tượng giám định có thể thực hiện theo hai hình thức:
- Giao nhận trực tiếp;
- Hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính.
Trường hợp giao nhận trực tiếp, các bên phải lập biên bản giao nhận, trong đó thể hiện rõ:
- Thời gian, địa điểm giao nhận;
- Thông tin người đại diện bên giao và bên nhận;
- Quyết định trưng cầu hoặc văn bản yêu cầu giám định;
- Mô tả đối tượng giám định, tài liệu và đồ vật liên quan;
- Tình trạng đối tượng giám định khi bàn giao;
- Phương thức bảo quản đối tượng giám định;
- Chữ ký của các bên liên quan.
Đối với hồ sơ gửi qua đường bưu chính, phải thực hiện theo hình thức gửi bảo đảm có mã số theo dõi. Khi mở niêm phong, cá nhân hoặc tổ chức nhận hồ sơ phải lập biên bản theo quy định pháp luật.
Trong quá trình thực hiện giám định, người giám định tư pháp có trách nhiệm ghi nhận đầy đủ bằng văn bản toàn bộ quá trình giám định; bao gồm tình trạng đối tượng giám định, phương pháp giám định, tiến độ thực hiện, kết quả chuyên môn và các nội dung liên quan… Tài liệu này được lưu trong hồ sơ giám định.
Ngoài ra, kết luận giám định phải được lập thành văn bản. Tùy theo chủ thể thực hiện giám định, văn bản kết luận phải có chữ ký và xác nhận hợp lệ theo quy định. Cụ thể:
- Nếu cá nhân giám định: Phải có chữ ký và ghi rõ họ tên người giám định;
- Nếu tổ chức cử người giám định: Phải có chữ ký của người giám định và xác nhận của tổ chức;
- Nếu tổ chức thực hiện giám định: Người đứng đầu tổ chức ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm về kết luận giám định;
- Nếu Hội đồng giám định thực hiện: Người có thẩm quyền thành lập Hội đồng ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của Hội đồng.
Trong trường hợp giám định được thực hiện trước khi khởi tố vụ án hình sự theo đúng quy định của Luật Giám định tư pháp, kết luận giám định vẫn có thể được Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng như kết luận giám định tư pháp.
Bước 3: Nhận kết quả giám định.
Sau khi hoàn tất việc giám định, cá nhân hoặc tổ chức thực hiện giám định có trách nhiệm giao kết luận giám định và hoàn trả đối tượng giám định cho người trưng cầu hoặc người yêu cầu giám định, ngoại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Việc giao nhận lại đối tượng giám định phải được lập thành biên bản theo đúng trình tự pháp luật nhằm bảo đảm tính minh bạch và giá trị chứng cứ của quá trình giám định.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


