Trong thực tế giải quyết tranh chấp thừa kế, không phải mọi di chúc đều được công nhận toàn bộ hiệu lực pháp luật. Có những trường hợp di chúc bị tuyên vô hiệu hoàn toàn hoặc chỉ vô hiệu đối với một phần nội dung do không đáp ứng điều kiện về chủ thể, hình thức hoặc nội dung theo quy định pháp luật. Vậy: Di chúc vô hiệu hoặc vô hiệu một phần thì chia thừa kế như thế nào?
Mục lục bài viết
1. Các trường hợp di chúc vô hiệu toàn bộ, vô hiệu một phần:
Trong thực tiễn giải quyết thừa kế, không phải mọi di chúc đều có hiệu lực pháp luật toàn bộ nội dung. Tùy từng trường hợp cụ thể, di chúc có thể bị tuyên vô hiệu hoàn toàn hoặc chỉ vô hiệu đối với một phần nội dung. Việc phân biệt hai trường hợp này có ý nghĩa quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức phân chia di sản và quyền lợi của người thừa kế.
- Di chúc vô hiệu toàn bộ là trường hợp bản di chúc bị mất hiệu lực pháp lý đối với toàn bộ nội dung, đồng nghĩa với việc di sản sẽ không được chia theo ý chí thể hiện trong di chúc mà phải xử lý theo quy định của pháp luật về thừa kế;
- Di chúc vô hiệu một phần là trường hợp chỉ một hoặc một số nội dung trong di chúc không còn hiệu lực nhưng những phần còn lại vẫn đáp ứng điều kiện hợp pháp và tiếp tục được công nhận. Khi đó, phần hợp pháp của di chúc vẫn được áp dụng, còn phần vô hiệu sẽ được xử lý theo quy định pháp luật tương ứng.
Việc xác định di chúc vô hiệu toàn bộ hay một phần phụ thuộc vào căn cứ pháp lý và hoàn cảnh thực tế tại thời điểm mở thừa kế. Khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
Như vậy: Trong các trường hợp cụ thể nêu trên, di chúc sẽ được xác định là không có hiệu lực một phần hoặc vô hiệu toàn bộ.
Việc phân biệt hai trường hợp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giải quyết tranh chấp thừa kế. Nếu xác định sai phạm vi vô hiệu, quyền lợi của người thừa kế có thể bị ảnh hưởng đáng kể. Thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án thường ưu tiên giữ lại hiệu lực của phần di chúc hợp pháp nhằm tôn trọng ý chí của người để lại di sản; đồng thời chỉ loại bỏ những phần không còn phù hợp hoặc không thể thực hiện được.
2. Di chúc vô hiệu, vô hiệu một phần thì chia thừa kế thế nào?
a. Đối với trường hợp di chúc vô hiệu toàn bộ:
Di chúc vô hiệu toàn bộ diễn ra trong trường hợp chủ thể nhận di sản thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc, khi di sản thừa kế không còn tại thời điểm mở thừa kế. Bản chất của thừa kế theo di chúc là việc phân chia di sản thừa kế theo ý chí, mong muốn của người để lại di sản thể hiện trong nội dung của di chúc. Do đó, trong trường hợp các cá thể thuộc diện được hưởng tài sản thừa kế đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (không còn chủ thể nhận thừa kế theo nội dung của di chúc) thì bản di chúc sẽ vô hiệu. Trong trường hợp này:
- Di sản thừa kế sẽ được phân chia theo pháp luật, tức là sẽ áp dụng chi theo hàng thừa kế;
- Trường hợp sản thừa kế không còn tại thời điểm mở thừa kế (mất hoàn toàn) thì di chúc vô hiệu. Lúc này, việc phân chia di sản thừa kế sẽ không được diễn ra.
Đối chiếu với khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
b. Đối với trường hợp di chúc vô hiệu một phần:
- Di chúc vô hiệu một phần khi một hoặc một số chủ thể được phân chia di sản thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì di chúc vô hiệu một phần. Trường hợp này, di chúc chỉ vô hiệu tại nội dung phân chia liên quan với chủ thể đã chết, còn các nội dung phân chia còn lại vẫn sẽ có hiệu lực về mặt pháp luật. Phần nội dung không bị vô hiệu vẫn được thực hiện phân chia như bình thường. Phần nội dung vô hiệu sẽ được xem xét phân chia thừa kế theo pháp luật (khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 nêu trên);
- Di chúc vô hiệu một phần khi di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần. Trường hợp này, phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. Các chủ thể được nhận di sản thừa kế này theo nội dung di chúc sẽ được tiến hành khai nhận di sản thừa kế với phần tài sản tương ứng. Trong trường hợp người để lại di chúc chỉ phân định tài sản chung chung (Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A để lại tài sản thừa kế là đất đai cho 4 người con. Trong nội dung di chúc, ông chỉ nêu phần đất này chia đều cho 4 con). Khi đó, nếu một phần đất của ông A không còn (tài sản thừa kế mất một phần) thì phần còn lại sẽ được chia đều cho các chủ thể được thể hiện trong di chúc;
- Đối với trường hợp di chúc vô hiệu một phần, nội dung còn lại của di chúc vẫn sẽ có hiệu lực và vẫn được áp dụng phân chia di sản thừa kế cho các chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan.
3. Câu hỏi thường gặp liên quan đến di chúc vô hiệu, vô hiệu một phần:
Trong quá trình giải quyết thừa kế, các vấn đề liên quan đến di chúc vô hiệu hoặc vô hiệu một phần thường gây nhiều thắc mắc cho người thừa kế. Dưới đây là những câu hỏi phổ biến và hướng giải đáp theo quy định pháp luật hiện hành.
3.1. Di chúc vô hiệu có cần làm lại thủ tục chia thừa kế không?
Nếu di chúc bị tuyên vô hiệu toàn bộ, việc phân chia di sản sẽ không còn căn cứ theo nội dung di chúc mà phải chuyển sang chia thừa kế theo pháp luật (Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015).
Trong trường hợp các bên đã tiến hành phân chia tài sản trước đó dựa trên di chúc nhưng sau này di chúc bị tuyên vô hiệu thì có thể phải thực hiện lại việc phân chia theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đồng thừa kế.
Tuy nhiên, nếu các bên đã thỏa thuận phân chia di sản hợp pháp và không có tranh chấp thì có thể tiếp tục công nhận thỏa thuận đó theo quy định pháp luật dân sự.
3.2. Di chúc vô hiệu một phần có phải chia lại toàn bộ di sản không?
Không phải mọi trường hợp di chúc vô hiệu một phần đều dẫn đến việc chia lại toàn bộ di sản. Nguyên tắc chung là phần di chúc hợp pháp vẫn có hiệu lực và được thực hiện theo đúng ý chí của người lập di chúc. Chỉ phần nội dung bị vô hiệu mới được xử lý theo quy định về thừa kế theo pháp luật hoặc theo cách thức khác phù hợp (Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015).
Do đó, việc xác định rõ phạm vi phần vô hiệu có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh việc hiểu nhầm rằng toàn bộ di chúc đều mất hiệu lực.
3.3. Những ai có quyền yêu cầu Tòa án tuyên di chúc vô hiệu?
Những người có quyền và lợi ích liên quan đến di sản thừa kế có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc, bao gồm:
- Người thừa kế theo pháp luật;
- Người thừa kế theo di chúc;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc phân chia di sản.
Yêu cầu tuyên di chúc vô hiệu thường phát sinh khi có căn cứ cho rằng di chúc không đáp ứng điều kiện hợp pháp; như người lập di chúc không minh mẫn, bị cưỡng ép hoặc di chúc vi phạm quy định về hình thức… (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


