Theo quy định pháo luật, di chúc có thể được lập bằng văn bản hoặc di chúc miệng. Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện của từng loại di chúc thì di chúc được công nhận hợp pháp. Vậy câu hỏi đặt ra: Di chúc lập bằng văn bản có hiệu lực kể từ thời điểm nào?
Mục lục bài viết
1. Thời điểm có hiệu lực của di chúc lập bằng văn bản:
Di chúc lập bằng văn bản là hình thức di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết, trong đó người lập di chúc ghi nhận ý chí cuối cùng của mình về việc định đoạt tài sản sau khi chết; bao gồm việc xác định người thừa kế, phần di sản được hưởng, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan theo đúng điều kiện, trình tự và hình thức do pháp luật quy định.
Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc bằng văn bản là một trong 02 hình thức di chúc hợp pháp (bên cạnh hình thức di chúc miệng) và có thể được lập dưới các dạng cụ thể sau:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có công chứng;
- Và di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Dù được lập dưới hình thức nào thì di chúc bằng văn bản đều phải bảo đảm các điều kiện về năng lực hành vi của người lập di chúc, tính tự nguyện, nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội và tuân thủ đúng quy định về hình thức (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Đồng thời, pháp luật hiện nay cũng có quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của di chúc. Cá nhân theo quy định của pháp luật sẽ có quyền lập di chúc theo mong muốn và nguyện vọng của bản thân để lại tài sản của mình cho những người khác sau khi họ qua đời, và cũng có quyền được hưởng di sản thừa kế theo di chúc của những người để lại di sản thừa kế một cách bình đẳng trên phương diện pháp lý.
Về thời điểm có hiệu lực của di chúc, tại Điều 643 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Đối chiếu với Điều 611 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thời điểm, địa điểm mở thừa kế:
- Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Như vậy: Di chúc bằng văn bản sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế – tức là thời điểm người lập di chúc qua đời.
Cần lưu ý, trước khi xem xét thời điểm di chúc có hiệu lực thì người thừa kế cũng như các chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan phải xác định rõ di chúc đó có đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính hợp pháp theo quy định của pháp luật hay không (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Bởi chỉ khi di chúc hợp pháp thì ý chí của người để lại di sản mới được pháp luật công nhận và làm căn cứ để giải quyết việc thừa kế.
2. Di chúc lập bằng văn bản không được công nhận hiệu lực khi nào?
Khoản 3 và khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hiệu lực của di chúc như sau:
- Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực;
- Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
Như vậy, không phải mọi di chúc được lập bằng văn bản đều mặc nhiên có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp nhất định, dù di chúc tồn tại dưới hình thức văn bản nhưng vẫn không được công nhận hiệu lực hoặc chỉ được công nhận hiệu lực một phần. Cụ thể như sau:
a. Di chúc không có hiệu lực khi di sản không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế:
Theo Khoản 3 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015: Di chúc không có hiệu lực nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Nếu tại thời điểm người lập di chúc qua đời mà toàn bộ di sản được định đoạt trong di chúc không còn trên thực tế (do đã bị chuyển nhượng, tiêu hủy, bị thu hồi hoặc vì lý do khách quan khác…) thì di chúc đối với phần di sản đó không phát sinh hiệu lực do đối tượng của di chúc không còn tồn tại. Trường hợp di sản chỉ còn một phần thì di chúc chỉ có hiệu lực đối với phần di sản còn lại, còn phần không còn tồn tại sẽ đương nhiên không được thực hiện.
b. Di chúc lập bằng văn bản không được công nhận hiệu lực đối với phần nội dung không hợp pháp:
Khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ: Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
Khi di chúc có một hoặc một số phần không hợp pháp nhưng các phần này không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần nội dung vi phạm pháp luật bị vô hiệu; còn các phần hợp pháp khác của di chúc vẫn được công nhận và thực hiện.
Các trường hợp nội dung không hợp pháp có thể bao gồm: Định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc; vi phạm điều cấm của luật; trái đạo đức xã hội; hoặc xâm phạm nghiêm trọng quyền thừa kế bắt buộc của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của pháp luật.
c. Hiệu lực của di chúc gắn chặt với đối tượng và phạm vi định đoạt trong di chúc:
Quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 cho thấy, pháp luật hướng đến việc bảo vệ tối đa ý chí hợp pháp của người lập di chúc; nhưng đồng thời cũng đặt ra giới hạn rõ ràng: Chỉ những phần di chúc có đối tượng tồn tại trên thực tế và có nội dung hợp pháp mới được công nhận hiệu lực.
Do đó, di chúc bằng văn bản không bị vô hiệu hoàn toàn trong mọi trường hợp mà có thể không có hiệu lực toàn bộ hoặc chỉ không có hiệu lực từng phần (tùy thuộc vào tình trạng di sản và tính hợp pháp của từng nội dung định đoạt).
Như vậy: Di chúc lập bằng văn bản sẽ không được công nhận hiệu lực khi di sản không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế hoặc đối với những phần nội dung không hợp pháp; các phần còn lại của di chúc nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo luật định thì vẫn có giá trị pháp lý và được thực hiện.
3. Thời gian có hiệu lực của di chúc lập bằng văn bản:
Nhiều người hiện nay thắc mắc rằng: ”Di chúc lập bằng văn bản có hiệu lực trong thời gian bao lâu?”
Để trả lời được câu hỏi này thì cần phải căn cứ theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có ghi nhận về thời hiệu thừa kế. Theo đó:
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế;
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế;
- Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
Như vậy: Theo quy định nêu trên thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, được tính kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản thừa kế qua đời. Trong trường hợp hết thời hạn này mà người thừa kế không thực hiện yêu cầu chia di sản, thì di sản thừa kế sẽ thuộc về người thừa kế đang trực tiếp quản lý di sản đó trên thực tế.
Pháp luật hiện hành KHÔNG CÓ quy định thời hạn hiệu lực của di chúc mà chỉ đặt ra thời hiệu để yêu cầu chia di sản thừa kế. Do đó, có thể hiểu rằng:
- Khi di chúc định đoạt tài sản là bất động sản thì người thừa kế có 30 năm để yêu cầu chia di sản kể từ thời điểm mở thừa kế;
- Còn khi di chúc định đoạt tài sản là động sản thì thời hạn yêu cầu chia thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế
Hết thời hạn 30 năm đối với bất động sản hoặc 10 năm đối với động sản, nếu có người thừa kế đang quản lý di sản trên thực tế, thì di sản sẽ thuộc về người đang quản lý đó. Trường hợp không có người thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng đã hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thì di sản sẽ thuộc về người đang chiếm hữu; nếu không có người chiếm hữu, di sản sẽ thuộc về Nhà nước theo quy định của pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


