Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, không phải mọi di chúc được lập ra đều đương nhiên có hiệu lực và được thực hiện. Có những trường hợp, do điều kiện về di sản, nội dung hoặc hình thức của di chúc không đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật... mà di chúc có thể bị tuyên không có hiệu lực toàn bộ hoặc chỉ không có hiệu lực đối với một phần nội dung.
Mục lục bài viết
1. Khái quát chung về tính hiệu lực của di chúc:
Có thể nói, chỉ di chúc hợp pháp mới có thể phát sinh hiệu lực. Tuy nhiên, không phải mọi di chúc hợp pháp đều phát sinh hiệu lực. Tính hợp pháp chỉ là một trong những điều kiện để xác định hiệu lực của di chúc; là điều kiện cần nhưng không phải là điều kiện đủ để một di chúc phát sinh hiệu lực trên thực tế.
Hiệu lực của di chúc phải được xác định dựa trên nhiều yếu tố và dựa trên nhiều giá trị khác nhau, trong đó bao gồm giá trị pháp lý của di chúc (hay còn gọi là tính hợp pháp của di chúc) và giá trị thi hành có di chúc (hay còn được gọi là tính thi hành trên thực tế của di chúc). Hiệu lực của di chúc là căn cứ để xác định việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo di chúc hay thực hiện theo pháp luật, vì thế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định quan hệ thừa kế phát sinh từ di chúc.
Từ đó có thể đưa ra khái niệm hiệu lực của di chúc như sau:
”Hiệu lực của di chúc là di chúc hợp pháp được thực hiện kể từ thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản, những người thừa kế theo di chúc và các chủ thể khác có liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ theo ý chí của người để lại di sản đã thể hiện trong di chúc.”
Vì thế hiệu lực của di chúc bằng những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, hiệu lực của di chúc thể hiện sự tác động của pháp luật tới ý chí của người lập di chúc. Bởi di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân người lập di chúc. Thông qua di chúc thì người lập định đoạt tài sản của mình sau khi chết mà không cần có sự cho phép của bất cứ ai, cũng như không cần có sự đồng ý của người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc.
- Thứ hai, hiệu lực của di chúc là căn cứ làm phát sinh quan hệ thừa kế. Di chúc hợp pháp là di chúc đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Di chúc hợp pháp là cơ sở để xác định hiệu lực của di chúc tại thời điểm mở thừa kế. Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế và kể từ thời điểm đó mới làm phát sinh quan hệ thừa kế, phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo di chúc.
- Thứ ba, hiệu lực của di chúc thể hiện sự đảm bảo đối với quyền lập di chúc của cá nhân, quyền và lợi ích của những người thừa kế theo di chúc và những người khác có liên quan.
2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ khi nào?
Căn cứ Khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong một số trường hợp nhất định, di chúc dù được lập hợp pháp về hình thức và nội dung nhưng vẫn không phát sinh hiệu lực đối với toàn bộ nội dung do không còn chủ thể hoặc đối tượng để thực hiện ý chí của người lập di chúc. Những trường hợp này được xác định là di chúc vô hiệu toàn phần, cụ thể như sau:
a. Di chúc người, thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc:
Di chúc chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế, tức thời điểm người lập di chúc qua đời. Vì vậy, người được chỉ định hưởng thừa kế phải còn sống tại thời điểm này thì mới có thể trở thành người thừa kế theo di chúc. Trường hợp toàn bộ người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì di chúc không thể thực hiện được, do không còn chủ thể để tiếp nhận di sản. Khi đó, toàn bộ di chúc bị vô hiệu và việc phân chia di sản sẽ được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
b. Di chúc có cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế:
Pháp luật cho phép cơ quan, tổ chức trở thành người thừa kế theo di chúc nhưng với điều kiện bắt buộc là cơ quan, tổ chức đó phải còn tồn tại hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế. Trường hợp di chúc chỉ định một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức là người thừa kế nhưng tại thời điểm người lập di chúc qua đời, tất cả các cơ quan/tổ chức này đều đã chấm dứt tồn tại, giải thể hoặc không còn tư cách pháp lý thì di chúc cũng không thể được thực hiện. Do không còn chủ thể hợp pháp để nhận di sản nên toàn bộ di chúc bị vô hiệu và di sản sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật.
c. Di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế:
Di sản là đối tượng trực tiếp của di chúc, do đó sự tồn tại của di sản tại thời điểm mở thừa kế là điều kiện tiên quyết để di chúc có thể phát sinh hiệu lực. Trường hợp toàn bộ di sản được định đoạt trong di chúc không còn tồn tại trên thực tế tại thời điểm người lập di chúc qua đời (do đã bị chuyển nhượng, tiêu hủy, thu hồi hoặc vì lý do khách quan khác…) thì di chúc không còn đối tượng để thực hiện, từ đó dẫn đến vô hiệu toàn bộ. Trong trường hợp này, dù ý chí của người lập di chúc đã được thể hiện rõ ràng nhưng do không còn di sản để phân chia nên di chúc không thể phát sinh hiệu lực trên thực tế.
d. Di chúc không hợp pháp:
Di chúc vi phạm điều kiện có hiệu lực tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Về bản chất, di chúc là một loại giao dịch dân sự đặc biệt. Do đó phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015). Trong trường hợp di chúc không đáp ứng các điều kiện này thì di chúc không được coi là hợp pháp và không thể phát sinh hiệu lực.
3. Di chúc bị vô hiệu một phần khi nào?
Theo quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong nhiều trường hợp di chúc không bị vô hiệu toàn bộ mà chỉ vô hiệu đối với một phần nội dung nhất định. Cụ thể, di chúc bị vô hiệu một phần trong các trường hợp sau:
a. Di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực:
Về bản chất, di chúc là một giao dịch dân sự đặc biệt; do đó di chúc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, ý chí, nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp chỉ một hoặc một số nội dung trong di chúc không hợp pháp (ví dụ: định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc; vi phạm điều cấm của luật; trái đạo đức xã hội; xâm phạm quyền thừa kế bắt buộc…), nhưng những nội dung này có thể tách biệt và không làm ảnh hưởng đến các phần còn lại thì chỉ phần không hợp pháp đó bị vô hiệu, còn các phần hợp pháp khác của di chúc vẫn có hiệu lực và được thực hiện.
b. Có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc:
Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế, do đó người được chỉ định hưởng thừa kế phải còn sống tại thời điểm này. Trường hợp trong số nhiều người thừa kế theo di chúc, có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì phần di chúc liên quan đến người thừa kế đó không thể thực hiện và bị vô hiệu vì không còn chủ thể để nhận di sản. Tuy nhiên, do di chúc có nhiều người thừa kế nên việc một người không đủ điều kiện hưởng thừa kế không làm ảnh hưởng đến quyền hưởng thừa kế của các người còn lại. Vì vậy, di chúc chỉ vô hiệu đối với phần di sản được định đoạt cho người đã chết; còn các phần khác vẫn giữ nguyên hiệu lực.
c. Có nhiều người thừa kế nhưng một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế:
Pháp luật cho phép cơ quan, tổ chức trở thành người thừa kế theo di chúc. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là cơ quan/tổ chức đó phải còn tồn tại hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp di chúc chỉ định nhiều người thừa kế, trong đó có một cơ quan, tổ chức đã giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc không còn tư cách pháp lý thì phần di chúc chỉ định cho cơ quan, tổ chức này sẽ bị vô hiệu, do không còn chủ thể đủ điều kiện tiếp nhận di sản. Các phần di chúc còn lại, liên quan đến các cá nhân hoặc tổ chức vẫn đang tồn tại hợp pháp, không bị ảnh hưởng và vẫn có hiệu lực. Cách xử lý này bảo đảm sự linh hoạt, hợp lý và phù hợp với thực tiễn pháp lý.
d. Di sản để lại cho người thừa kế có một phần không còn vào thời điểm mở thừa kế thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực:
Di sản là đối tượng trực tiếp của di chúc, vì vậy sự tồn tại của di sản tại thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực của di chúc. Trường hợp di sản không còn toàn bộ thì phần di chúc tương ứng sẽ không có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu di sản chỉ không còn một phần thì di chúc vẫn có hiệu lực đối với phần di sản còn tồn tại; còn phần di sản đã không còn thì phần di chúc tương ứng bị vô hiệu. Quy định này thể hiện rõ quan điểm của pháp luật là chỉ loại bỏ phần di chúc không còn khả năng thực hiện, đồng thời bảo toàn hiệu lực của phần di chúc vẫn còn đối tượng để thực hiện trên thực tế.
4. Hậu quả và hướng xử lý trong trường hơp di chúc vô hiệu:
Khi di chúc bị tuyên vô hiệu (vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần) thì ý chí của người lập di chúc sẽ không còn được thực hiện tương ứng với phạm vi bị vô hiệu. Việc nhận diện đúng hậu quả pháp lý của di chúc vô hiệu có ý nghĩa quan trọng giúp người thừa kế chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và lựa chọn phương án xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật.
4.1. Di sản được chia như thế nào khi di chúc bị vô hiệu?
Căn cứ Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp di chúc vô hiệu toàn phần thì toàn bộ di sản thừa kế không còn được chia theo di chúc mà sẽ được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
Ngược lại, trường hợp di chúc chỉ vô hiệu một phần thì chỉ phần nội dung bị vô hiệu không được thực hiện, còn các phần hợp pháp còn lại của di chúc vẫn có giá trị thi hành.
Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, việc phân chia di sản được thực hiện căn cứ vào hàng thừa kế, phần quyền lợi của từng người thừa kế và các quy định liên quan tại Điều 651 và Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; từ đó bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa những người thừa kế cùng hàng, đồng thời xem xét đến các yếu tố pháp lý liên quan khác theo quy định pháp luật.
4.2. Tranh chấp di chúc vô hiệu và quyền của người thừa kế bắt buộc:
Trong thực tiễn, tranh chấp về di chúc vô hiệu thường phát sinh khi các bên thừa kế không thống nhất về hiệu lực của di chúc hoặc có sự mâu thuẫn về phạm vi, tỷ lệ di sản được hưởng… Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, người có quyền lợi liên quan có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc một phần để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Đặc biệt, theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế không phục thuộc vào nội dung của di chúc (bao gồm cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự) luôn được hưởng một phần di sản nhất định, ngay cả trong trường hợp nội dung di chúc không đề cập hoặc có ý định tước quyền hưởng di sản của họ. Nếu nội dung di chúc xâm phạm quyền thừa kế bắt buộc này thì phần nội dung vi phạm đó sẽ bị tuyên vô hiệu, trong khi các phần còn lại của di chúc, nếu hợp pháp thì vẫn sẽ được công nhận.
4.3. Cách xử lý khi di chúc vô hiệu tại Tòa án:
Khi phát sinh tranh chấp, việc xử lý di chúc vô hiệu được thực hiện theo trình tự và thủ tục tố tụng tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền – thường là Tòa án nơi có bất động sản hoặc nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản tùy từng trường hợp cụ thể (Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Trong quá trình giải quyết, Tòa án sẽ xem xét toàn diện các yếu tố pháp lý. Bao gồm:
- Tính hợp pháp của di chúc về hình thức, nội dung và năng lực hành vi của người lập di chúc;
- Các tình tiết chứng minh việc lập di chúc có bị ép buộc, lừa dối, đe dọa; hoặc có vi phạm về trình tự, thủ tục theo quy định hay không;
- Quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở đó, Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu toàn phần hoặc vô hiệu một phần; đồng thời hướng dẫn việc chia tài sản theo thừa kế pháp luật hoặc theo phần di chúc còn hợp lệ (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


